Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23830630
Số người đang online:
44
NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
Trong phạm vi cụ thể tôi muốn nhấn mạnh thêm những đóng góp nổi bật của Giáo sư Tiến sĩ N.I. Niculin trên tư cách nhà ngữ văn - nhà nghiên cứu văn học Việt Nam.

(Tiếp theo và hết)

III

Trong phạm vi cụ thể tôi muốn nhấn mạnh thêm những đóng góp nổi bật của Giáo sư Tiến sĩ N.I. Niculin trên tư cách nhà ngữ văn - nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Ở đây xin không bàn rộng, không bàn lại những vấn đề đã nêu như khả năng bao quát tư liệu, mối quan tâm sâu rộng của tác giả về văn hóa nói chung mà chủ ý xác định các thao tác, cách thức, phương pháp tác giả đã vận dụng để giải quyết từng vấn đề, từ đó đưa đến những nhận thức mới, cách lý giải mới, nội dung học thuật mới - tức là nhấn mạnh những đóng góp bổ sung được coi là mới mẻ trên cơ sở mặt bằng trình độ tư duy nghiên cứu ngữ văn Việt Nam đương đại.

Trước hết, trong chùm bài nghiên cứu về văn hóa và văn học dân gian (hay nói chính xác hơn là folklore) - những tác phẩm thuộc về thần thoại, truyền thuyết và sử thi - N.I. Niculin không chỉ giải thích các hình ảnh, biểu tượng nhân vật mang tính thần thoại bằng hình thức tư duy nguyên thủy theo hai chiều “nhân cách hóa vũ trụ” và “vũ trụ hóa con người” vốn đã được thừa nhận như một quy phạm khoa học mà tập trung lý giải theo phương hướng truy tìm các nguyên gốc cổ mẫu (archétype). Định hướng quan niệm này được ông quán triệt trong việc xác định biểu trưng “cây thế giới” khi tìm hiểu về trống đồng Đông Sơn, thần thoại Việt- Mường và tác phẩm H’mon Đămnoi của người Bana. Từ đây ông đặt vấn đề về “khả năng rộng lớn của các mối quan hệ giao tiếp”, hoặc rộng hơn là khả năng trùng hợp, tương đồng trong tư duy: “Đề cập đến mối quan hệ giữa văn học cổ Việt Nam và folklore của các dân tộc Việt Nam có thể minh họa cho chủ đề điển hình và đặc trưng. Đó là chủ đề chặt cây thần hoặc là cuộc vật lộn tay đôi với các thế lực quỷ thần của cây... Ý niệm về cây gắn liền với số phận con người hoặc những sinh thể tồn tại ở nhiều dân tộc khác như Mường, Thái, Êđê...”(2). Khi tìm hiểu bản chất thể loại của tác phẩm sử thi - thần thoại Mường Đẻ Đất đẻ Nước, ông không chỉ chú ý đến đặc điểm nội dung xã hội mà đặc biệt quan tâm đến tính chất các dị bản, đặc trưng diễn xướng (vai trò thầy mo), tương quan giữa các biểu tượng thần thoại (gà trống - nắng, rồng - nước, bướm - mặt trời) gần với tư duy thời kỳ tiền sử, trong đó có những điểm tiếp cận (hoặc là khả năng bảo lưu dấu vết cội nguồn, hoặc là khả năng trầm tích những yếu tố mới?) với thời đại chính sử, tức là thời đại “trở thành đối tượng phản ánh chủ yếu trong Thiên Nam ngữ lục(3). Thêm một điểm mới mẻ khác nữa là tác giả đã nâng cấp, mở rộng sự so sánh cả hệ thống folklore này trong tương quan tính cộng đồng văn học Đông Nam Á. Khi so sánh tình tiết “cuộc cầu hôn anh hùng” trong sử thi Êđê và Mã Lai, ông liên hệ tới chủ đề “hôn nhân du ký”, “cuộc viễn du hôn nhân” ở tác phẩm Rumaiana của Philippin; chỉ ra những điểm khác biệt và giống nhau trong cấu trúc tác phẩm, trong mối liên hệ với thời gian và không gian, những “khúc xạ theo kiểu khác nhau” ở cùng một đề tài, từ đó đi tới kết luận về sử thi Êđê và sử thi trung đại Mã Lai “cả hai đều còn giữ lại dạng cổ sơ được tạo bởi những mối quan hệ mang tính cội nguồn chung của hai dân tộc(4). Trên cơ sở các bước khảo sát cụ thể này và phối hợp với ý kiến của nhiều chuyên gia văn hóa học, dân tộc học khác, nhà nghiên cứu đã khái quát về Folklore và vấn đề tính cộng đồng văn học Đông Nam Á, mà theo tôi, đây là luận văn vừa mang tính khái quát, tổng kết, vừa gợi mở những ý tưởng mới, cần tiếp tục đi sâu (Chẳng hạn, việc nghiên cứu “cơ sở nền tảng” và “tổng hợp các vấn đề tính cộng đồng Đông Nam Á”, đặc điểm “cộng đồng Đông Nam Á và Nam Ấn Độ”, quan hệ “khu vực và siêu khu vực”, hoặc nữa là “mối quan hệ qua lại về văn học và văn bản folklore thời kỳ trung đại”...)(5).

Đối với lịch sử văn học Trung đại Việt Nam, còn được gọi là nền văn học viết truyền thống. N.I. Niculin đã có những đóng góp thực sự sáng giá, mới mẻ, cụ thể. Hiển nhiên là sinh ra ở nước Nga - một trong những trung tâm lý luận và nghiên cứu ngữ văn lớn trên thế giới - ông có điều kiện tiếp cận được với hầu hết các công trình có tính kinh điển cũng như các vấn đề khoa học cập nhật của các nhà lý luận và học giả Đông phương nổi tiếng như O.O. Rozenber, V.Ia. Propp, M.M. Bakhtin, I.M. Lốtman, N.I. Konrat, V.M. Alêcxâyep, V.M. Gicmunxki, L.Z. Âyđơlin, D.X. Likhachốp, E.M. Mêlêtinxki, A.Ia. Gurêvich, I.X. Lixêvich, B.L. Riftin, D.V. Đêopik... Trên cơ sở điểm tựa lý luận cơ bản và việc nắm bắt, hệ thống hóa được những thông tin tư liệu ở khu vực và tầm quốc tế nên khi áp dụng vào nghiên cứu thực thể văn học Trung đại Việt Nam, ông sớm góp thêm những cách hình dung mới, cách lý giải mới, chỉ ra những mối liên hệ và đối sánh đầy sức thuyết phục. Đơn cử một số ví dụ:

- Khi nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, ngay từ trước năm 1960, N.I. Niculin không chỉ khẳng định Nguyễn Du là “nhà thơ nhân đạo lỗi lạc”, cũng không chỉ đặt vấn đề so sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân trên cơ sở các chi tiết, sự kiện và nội dung xã hội, mà đã đi sâu so sánh các đặc trưng thể loại, loại hình và truyền thống thi ca Việt Nam. Ông duy danh quan niệm Truyện Kiều - truyện thơ Nôm là “thiên trường ca”; ông nhấn mạnh khả năng diễn tả tâm lý nhân vật và vai trò tiếng nói trữ tình ngoại đề của tác giả: “Nguyễn Du phát triển và trau chuốt kỹ lưỡng những đoạn nào giúp ông bộc lộ cái thế giới bên trong của các nhân vật. Nhờ đó mà kết cấu của thiên trường ca có được tính chất chặt chẽ và trọn vẹn”; và khái quát chính xác: “Cuối cùng, cuốn Kim Vân Kiều truyện viết bằng văn xuôi và thuộc loại tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, còn Đoạn trường tân thanh thì lại là một trường ca thừa hưởng và nối tiếp truyền thống thơ ca cổ điển và thơ ca dân gian của Việt Nam. Do đó mà có nhiều điểm khác nhau về chất lượng. Hai tác phẩm khác nhau không phải chỉ ở chỗ thiên trường ca của Nguyễn Du viết theo thể lục bát đặc thù của thơ ca Việt Nam với cái âm hưởng đặc biệt của nó, mà còn ở chỗ Nguyễn Du đã dựa trên truyền thống thơ ca Việt Nam và đã sử dụng rất nhiều hình ảnh của ca dao mà sáng tạo ra một hệ thống hình tượng riêng, độc đáo và phong phú màu sắc. Đó chính là một trong những nguyên nhân khiến cho thiên trường ca tác động vào tình cảm của người đọc một cách mạnh mẽ”(6)... Như thế, việc xác định bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc như là điểm tựa cho khả năng tiếp nhận - sáng tạo lại cốt truyện nước ngoài và cho chính định hướng nghiên cứu so sánh loại hình - thể loại giữa Truyện Kiều Kim Vân Kiều truyện là một quan điểm học thuật đúng đắn, đã và đang tiếp tục gợi mở nhiều vấn đề thú vị.

- Khi nghiên cứu đặc điểm ba bài văn bia đời Lý (Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi, Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh, Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh) và sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XII, N.I. Niculin đã đặt chúng trong phổ hệ văn hóa “kim thạch di văn và “nền văn học tiểu sử mang tính truyền thống độc đáo” vùng Viễn Đông. Ở đây ông liên hệ tới những miếu bia từ đời Hán, 206 TCN (được gọi là công đức tụng), sau đó phát triển rộng rãi ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam; đồng thời mở rộng so sánh với loại văn khắc ở những nước nằm ngoài quỹ đạo văn hóa Hán như Hy Lạp, Campuchia. Không tập trung vào khảo dị, chú giải câu chữ, ông biết phát huy sở trường của mình, biết cách bắt đầu từ chỗ nhà khảo chứng văn bản đặt dấu chấm. Từ góc độ nghiên cứu ngữ văn, ông xem xét cấu trúc các bài văn bia, tư duy ghi chép “biên niên sử”, miêu tả các hình tượng trang trọng trong “tình thế quốc huy”, khảo tả văn bản trong tương quan Văn - Sử - Triết, nguồn gốc thể loại và sự xuất hiện vai trò chủ thể sáng tạo: “Những kim thạch di văn phản ánh tính phức tạp của sự phát triển các nền văn học. Giữa chúng, ta bắt gặp những văn bản xét về mặt thể loại thì rất gần với thời kỳ cổ đại... Những cảm thụ thẩm mỹ, tài năng nghệ thuật, khí chất tâm lý của các tác giả được thể hiện một cách rõ ràng trong các bài văn bia do họ sáng tạo ra”. Từ sự so sánh với Trung Quốc, Triều Tiên “khoan khắc, ghi chữ đã trở thành một lĩnh vực đặc biệt của tri thức”, ông xác định việc viết chữ, luyện cách khắc ghi chữ đẹp của các nhà Nho mang màu sắc tâm linh hẳn đã có truyền thống tự xa xưa: “Đối với Việt Nam cũng như đối với hàng loạt nước ở phương Đông, sự phát triển mở rộng công việc khắc ghi lên các đồ vật (...) là một đặc điểm nổi bật. Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, người ta gán cho cả những dòng chữ vốn chỉ ghi để trang trí một ý nghĩa thần bí”(7). Vậy là với một kiểu văn bản khô khan song tác giả đã đi tới xác định được một số tín hiệu nghệ thuật đặt trong tương quan cấu trúc tác phẩm; rộng hơn, đặt trong mối liên hệ cơ sở văn hóa khu vực Đông Á giai đoạn đầu thời Trung đại.

- Một đề tài hấp dẫn và cũng cực kỳ khó là vấn đề thơ Hồ Xuân Hương. Điểm thử thách mấu chốt giữa các quan điểm, cách lý giải, đánh giá ở đây là việc hiểu mối quan hệ “thanh” và “tục” trong thơ Hồ Xuân Hương như thế nào? Có sự khác biệt nhiều hoặc ít so với các nhận định của nhiều học giả Việt Nam lớp trước như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1874-1941), Nguyễn Văn Hanh (?), Trương Tửu (sinh 1913), Trần Thanh Mại (1911-1965), Nguyễn Đức Bính (1906-1983),... N.I. Niculin đã là người đầu tiên vận dụng phương pháp luận M.M. Bakhtin (1895-1975) vào nghiên cứu kiểu sáng tác thơ Hồ Xuân Hương. Chí ít là từ năm 1966, ông đã có bài nghiên cứu chuyên sâu về Hồ Xuân Hương bằng tiếng Nga. Sau đó ông khẳng định nét đặc sắc của thơ Hồ Xuân Hương so với dòng thơ truyền thống: “Hồ Xuân Hương không coi rẻ hệ thống đề tài thấp kém thì điều đó có nghĩa là cùng với thơ Hồ Xuân Hương, đã lọt vào văn học Việt Nam một hệ thống thẩm mỹ trước đây còn xaa lạ với nó” (1968)(8); và cụ thể hơn: “Rõ ràng ở đây cần hải áp dụng một thuật ngữ do M.M. Bakhtin đưa ra: “tiếng cười lưỡng trị” - trong đó có sự chửi mắng và khen ngợi, sự phủ định và khẳng định, sự chết đi và sinh thành đều hòa nhập vào nhau như hai mặt của một quá trình “tái sinh” thông qua sự cười nhạo và hạ thấp, thông qua sự “văng vào bộ phận dưới của cơ thể” (1969)(9); rồi ông khái quát bản chất một kiểu thơ: “Sáng tác của Hồ Xuân Hương dường như là một sự xâm nhập của nền văn hóa dân gian thời Trung cổ vốn không được thừa nhận vào lĩnh vực nghệ thuật cao siêu, nền văn hóa đó đã sống trong hội hè dân gian, trên sân khấu dân gian, trong ngôn ngữ hội thoại ở ngoài đường phố...” (1971)(10). Có thể nói những luận điểm trên đã được trích dẫn, bổ sung, triển khai ở nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương tại Việt Nam như “quá trình huyền thoại dân gian hóa”, “Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực”, “thi pháp thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, “dòng thơ trào phúng đến Hồ Xuân Hương”, v.v...

- Một trong những đóng góp nổi bật của N.I. Niculin là khi nghiên cứu văn học Việt Nam ông thường xuyên nhìn nhận trong tương quan giao lưu quốc tế, chỉ ra những nét đồng dạng hoặc giao thoa, hoặc liên hệ ảnh hưởng, phụ thuộc lẫn nhau. Ông là người sớm khái quát vấn đề Sự tiến triển của truyện thơ cổ điển Việt Nam và sự vay mượn cốt truyện (1983), dẫn dụng những tư liệu cơ bản về Quan hệ văn học Việt Nam - Triều Tiên cuối thế kỷ XVI - giữa thế kỷ XVIII (1987), nhìn nhận tổng quát Sự phản ánh những mối giao tiếp văn hóa với châu Âu trong văn học Việt Nam thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX (1986); sớm công bố các tư liệu Một nhà truyền giáo Pháp thế kỷ XVIII nói về hề chèo Việt Nam(11), hay Cuộc kỳ ngộ đầu thế kỷ XX (kể về quan hệ giữa vua Hàm Nghi và nữ nghệ sĩ - nhà văn - nhà soạn kịch - dịch giả người Nga Tachiana Lvovna Sepkina - Kupérnic nổi tiếng)(12) và nhận định lại vai trò mở đầu của Philíp Bỉnh với kiểu đề tài Những sáng tác về các chuyến viễn du... Chính nhờ vận dụng các phương pháp mới, mở rộng việc so sánh các nguồn tư liệu mới mà ông có thể gặt hái kết quả ngay cả ở những đối tượng ngỡ là quá quen thuộc. Với một số truyện và tiểu thuyết đầu thế kỷ, ông chỉ ra tính chất nội sinh Vai trò mới của cốt truyện cổ; ông tìm hiểu Vấn đề lý giải bài thơ Tăng thử của Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng cách liên hệ với Kinh thi (Trung Quốc), so sánh với sáng tác cùng kiểu loại của nhà thơ Lim Giê, 1549-1587 (Triều Tiên) để tạo nên nhận thức về những “hình tượng vĩnh cửu” mà hình tượng chuột “đóng vai trò của thiên tai gây ra bất hạnh, tai họa”, đồng thời xem xét thể loại ngâm và Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều với tư cách thể loại “truyện thơ trữ tình - triết lý” bằng những lập luận chặt chẽ, thuyết phục.

Về nghiên cứu văn học hiện đại, xin không dẫn giải phần đóng góp giới thiệu, dịch thuật mà tập trung nhấn mạnh những mối quan tâm chính yếu, những phương diện học thuật của N.I. Niculin nhằm phác thảo lịch sử mối quan hệ văn hóa - văn học Nga - Việt. Ở đây cần phải hiểu một cách rộng rãi rằng sự gắn bó của N.I. Niculin với 50 năm văn học Việt Nam không phải chỉ ở chỗ ông quan tâm tới thành tựu sáng tác cũng như nghiên cứu mà chính là ông đã nghiệm sinh, tham dự, góp phần dựng xây nên tiến trình văn học ấy - trong đó bao gồm (và chủ yếu) cả tiến trình nửa thế kỷ nghiên cứu về ngàn năm văn hóa - văn học truyền thống Việt Nam. Ngay trước thời kỳ miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông đã kịp thời tổng kết Mấy vấn đề về nghiên cứu và giới thiệu văn học Việt Nam ở Liên Xô (1972), khẳng định vai trò của một trong những người góp công xây nền văn học hiện đại và chỉ ra những bước khởi đầu của truyền thống văn học Nga - Việt: Đồng chí Hồ Chí Minh - sự ra đời của văn học cách mạng Việt Nam và đề tài Việt Nam trong văn học Nga nửa sau thế kỷ XIX (1974). Đồng thời với việc tìm hiểu các nguồn tư liệu văn học Việt Nam còn lưu tán ở nước ngoài và tài liệu của người nước ngoài viết về đề tài Việt Nam, ông cũng hết sức lưu tâm tới quá trình tiếp nhận văn học thế giới - nhất là văn học Nga ở Việt Nam; chẳng hạn loạt bài: Tác phẩm của Puskin ở Việt Nam (1979); Vấn đề Giôn Xten-bếch - tài năng và lương tâm của nhà văn, Nguyễn Tuân và sáng tác của Sêkhốp, Hồ Xuân Hương và số phận truyện cổ tích Việt Nam ở Liên Xô (1990); Tác phẩm của Nam Cao ở Liên Xô (1992); Những cuốn tự điển Việt - Nga (1996); nhà văn Nga nổi tiếng thế kỷ XIX viết về Việt Nam (1997); Những sáng tác về các chuyến viễn du (1999)... Đặc biệt từ giai đoạn Đổi mới (1986), trên tinh thần trung thực và khoa học, ông chào đón những thành tựu mới của Việt Nam bằng kinh nghiệm từ Nga - Xô, thấy rõ tính tất yếu của công cuộc Đổi mới trong văn học cũng như toàn xã hội, song trước sau vẫn cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản - và ông vui mừng trước sự phát triển và định hướng mà nhân dân Việt Nam lựa chọn. Những tiếng nói chân tình, đầy trách nhiệm ấy được nối dài qua các bài Đổi mới và những vấn đề của văn học Việt Nam hiện đại (1990); Một công trình nghiên cứu có giá trị về phê phán văn hóa thực dân mới (1991); Đối mặt với lịch sử (1994); Về vấn đề văn học những năm chiến tranh (1995); Vấn đề ý thức lịch sử và cá nhân (1997)...

Một điểm khác nữa, có thể nói chúng ta chưa nhận thức, đánh giá đầy đủ những đóng góp của N.I. Niculin bởi lẽ đơn giản là các công trình học thuật của ông thuộc nhiều chuyên ngành, nhiều giai đoạn văn học sử khác nhau, phân tán trên nhiều loại sách báo suốt dọc dài nửa thế kỷ, chưa có điều kiện hiện diện thành hợp tập, vựng tập. Song chính ông đã tự ý thức về quá trình nghiên cứu, từng bước tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề trong hai công trình văn học sử bề thế: Văn học Việt Nam sơ thảo (1971)(13)Văn học Việt Nam từ trung đại đến thời mới, thế kỷ X-XIX (1977)(14). Tất nhiên do yêu cầu quy phạm của loại sách “văn học sử”, tác giả không thể bỏ qua nhiều vấn đề cơ bản chung chung, quen thuộc, nhưng ở các trang vẫn xuất hiện những cách kiến giải mới, lập luận mới từ tầm nhìn quốc tế và đặt văn học Việt Nam trong quan hệ giao lưu quốc tế - những bước đi nhân loại (chẳng hạn, về quan niệm “phân kỳ lịch sử văn học”, về văn học dân gian, về quan hệ văn học Việt - Trung và khu vực Đông Á, về thơ văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và Truyện Kiều...). Cho đến nay, có thể nói đây vẫn là những bộ lịch sử văn học Việt Nam cơ bản nhất được phổ biến rộng rãi bằng tiếng Nga; và nếu được dịch sang tiếng Việt, vị tất chúng không phải thuộc loại sách “chất lượng cao”(15)

*

*    *

Trên đây là những nhận xét có ý nghĩa như là những thu hoạch học thuật của tôi với những hiểu biết bước đầu về chặng đường nửa thế kỷ nghiên cứu văn hóa - văn học Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ N.I. Niculin. Chắc chắn tôi mới chỉ nêu được phần nào những kiến giải khoa học sâu rộng của ông, song tôi tin ông đã gợi mở được nhiều điều về phương pháp luận nghiên cứu văn học, có những đóng góp lớn trong việc dịch, giới thiệu nền văn học Việt Nam ra nước ngoài cũng như nghiên cứu chính nền văn hóa văn học Việt Nam. Ông thực sự là người bạn lớn, thủy chung của dân tộc Việt Nam qua suốt dặm dài nửa thế kỷ - “một tấm gương lao động học thuật nghiêm túc, một nhà Việt Nam học xuất sắc nửa cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”...

                                                          

          Chú thích:

(1) Theo A.A. Sôkolov: Việc nghiên cứu văn học Việt Nam ở Nga. Tạp chí Văn học, số 11-1988; tr.77.

(2) N.I. Niculin: H’mon Đămnoi với vấn đề các mối quan hệ giao tiếp và những sự trùng hợp loại hình trong folklore Bana. Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 6-1990; tr.20-23.

(3) N.I. Niculin: Về bản chất thể loại của Đẻ Đất đẻ Nước. Văn hóa dân gian, số 1-1987; tr.15-24.

(4) N.I. Niculin: “Cuộc cầu hôn anh hùngtrong sử thi Êđê và Mã Lai, trong sách Sử thi Tây Nguyên. Nxb. Khoa học xã hội, H, 1998; tr.138-147.

(5) N.I. Niculin: Folklore và vấn đề tính cộng đồng văn học Đông Nam Á. Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 4-1992; tr.75-78.

(6) N.I. Niculin: Nguyễn Du, nhà thơ nhân đạo lỗi lạc. Nghiên cứu Văn học, số 10-1960; tr.67-75.

(7) N.I. Niculin: Ba bài văn bia và sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XII. Tạp chí Văn học, số 2-1976; tr.29-43.

(8) N.I. Niculin: Lời giới thiệu Thơ Hồ Xuân Hương. Nxb. Khoa học, Mátxcơva, 1968; Triêu Dương dịch; Tuyển in trong sách Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực. Nxb. Văn hóa thông tin, H, 1999; tr.605-620.

(9) Theo N.I. Niculin: Về thơ Hồ Xuân Hương, in trong Những vấn đề lý luận văn học phương Đông (Tiếng Nga). Nxb. Khoa học, Mátxcơva, 1969; tr.294-302.

(10) N.I. Niculin: Văn học Việt Nam sơ thảo. Nxb. Khoa học, Mátxcơva, 1971; Lê Sơn dịch. Bản đánh máy lưu trữ tại Thư viện Viện Văn học, D.344.

(11) N.I. Niculin: Một nhà truyền giáo Pháp thế kỷ XVIII nói về hề chèo Việt Nam. Tạp chí Sân khấu, số 134, tháng 6-1992; tr.2.

(12) N.I. Niculin: Cuộc kỳ ngộ ở đầu thế kỷ XX. Tạp chí Sân khấu, số123+124, tháng 3+4-1991; tr.45.

(13) N.I. Niculin: Văn học Việt Nam sơ thảo (Tiếng Nga). Nxb. Khoa học, Mátxcơva, 1971, 344 trang.

(14) N.I. Niculin: Văn học Việt Nam từ trung đại đến thời mới, thế kỷ X-XX  (Tiếng Nga). Nxb. Khoa học, Mátxcơva, 1977, 344 trang.

(15) Xin xem N.I. Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế (Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu). NXB Giáo dục, H, 2000, 752 trang.

- N.I. Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế (Hồ Sĩ Vịnh và Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, giới thiệu). NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, 536 trang.

Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn Học Việt Nam)

 

 

 

 

 

 

Bình luận
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
» V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa