Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23143252
Số người đang online:
168
Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
Taras Shevchenko là niềm tự hào của nhân dân Ukraina. Chính vì vậy mà người dân Ukraina đã trìu mến gọi nhà thơ là Ca sĩ nhân dân của đất nước mình.

Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina


Taras Shevchenko (1814-1861) Mỗi dân tộc đều có một nhà thơ lớn nhất của mình được người dân yêu mến và kính trọng. Khí phách của mỗi dân tộc thông qua nhà thơ lớn của mình thể hiện rõ rệt nhất khi nhà thơ được thừa nhận là người đại diện xứng đáng của họ.
Ở Việt Nam có Nguyễn Du, nước Nga có A.S. Pushkin, ở Ukraina có Taras Shevchenko – những nhà thơ lớn xứng đáng được nhân dân mỗi nước coi là nhà thơ lớn nhất của dân tộc mình.

 Taras Shevchenko là niềm tự hào của nhân dân Ukraina. Chính vì vậy mà người dân Ukraina đã trìu mến gọi nhà thơ là Ca sĩ nhân dân của đất nước mình.

Nói đến một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn là nói đến một trái tim lớn biết đập cùng nhịp với thời đại, biết đau cùng với nỗi đau của đất nước, của đồng bào, đồng thời cũng biết rộn ràng reo ca khi đất nước nở hoa. Taras Shevchenko là một trong những nhà thơ như thế.

Thời đại Shevchenko sống là thời đại của chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng nửa đầu thế kỷ 19 với chế độ nông nô hà khắc mà chính nhà thơ cũng là một nạn nhân. Nhà thơ đã chứng kiến những cảnh đời bất công đầy rẫy trong xã hội của Đế chế Nga nên từ trong dòng sữa của người mẹ nông nô nhà thơ đã lớn dần lên trong không khí cách mạng phản kháng chế độ chuyên chế và đòi xoá bỏ chế độ nông nô. Cuộc đời của Taras Shevchenko trải nếm biết bao điều khổ nhục. Taras xuất thân là nông nô. Anh, chị em ruột nhà thơ cũng là những người nông nô – tư hữu của bọn chúa đất. Trong 47 năm sống dưới chế độ nông nô hà khắc thì 24 năm đầu nhà thơ đã phải cam chịu thân phận kẻ nô lệ bị ràng buộc trong tay tên chúa đất Pavel Engelgardt. Biết được tài năng có nhiều hứa hẹn về hội hoạ của Shevchenko, các hoạ sĩ có tên tuổi thời đó đã đứng ra giúp đỡ Shevchenko vào học ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Saint - Peterburg. Nhưng trước hết phải giải thoát Sevchenko khỏi thân phận người nông nô. Hoạ sĩ danh tiếng Briunlov dạy ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật và nhà thơ Zhukovskij đã bàn cách kiếm đủ số tiền lớn quá sức tưởng tượng đối với thời bấy giờ - 2500 rúp – để chuộc tự do cho Shevchenko

Người hát rong vĩ đại -  người ca sĩ của nhân dân

Shevchenko đến với hội hoạ trước khi làm thơ. Chàng nông nô hoạ sĩ tài ba bắt đầu làm thơ và giấu mọi người quen biết, hơn thế nữa còn làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ Ukraina.

Taras bắt đầu làm thơ vào khoảng những năm 1830-1835. Đó là những đêm trắng rất đặc trưng của thành phố Saint-Peterburg khi chàng nông nô trẻ tuổi đến Công viên Mùa hạ vẽ phỏng theo bức tượng thần tiên bằng đá cẩm thạch. Rất tiếc những bài thơ đầu tay ấy đã bị thất lạc. Tuy nhiên, bài thơ balat đầu tay Người đàn bà bị tà ám mà thời gian xuất hiện phải là trước năm 1835 của Shevchenko đã được công bố. Yếu tố dân ca Ukraina, sự phong phú của hệ thống âm điệu và hình tượng, tính chất trữ tình sâu sắc, cách miêu tả điêu luyện những xúc cảm tâm hồn trước cảnh thiên nhiên in đậm nét trong bài thơ balat lãng mạn này. Chính vì vậy bài thơ balat mở đầu truyện thơ Người hát rong (Kovzar) đã nhanh chóng trở thành một trong những bài dân ca được quần chúng yêu thích: Dòng Đnhiép mênh mang gào rền rĩ/ Gió giận dữ chồm lên hàng liễu rủ/ Rồi cuộn tung những đợt sóng cồn/ Đến chân trời xám ngắt mù sương/ Trăng mờ ảo luồn mây u ám/ Thoắt ló mặt, thoắt ẩn mình như trốn/ Tựa lá thuyền con giữa biển lênh đênh/ Lúc chao mình, lúc cưỡi sóng vượt lên/ Hết eo óc gà thôi gáy sáng/ Chỉ còn nghe trong đêm vắng lặng/ Tiếng cây rừng kèn kẹt canh khuya/ Tiếng con chim đập cánh giữa sương mờ.

Xuất hiện sau bài thơ balat trên đây còn có ba bài thơ khác đậm chất dân ca: Đó là những bài thơ Gió ù ù gào thét (1838), Trên biển biếc (1838) phản ánh chân thực tình cảm của quần chúng nhân dân và tầng lớp tiến bộ của thời đại, và bài thơ dưới dạng bi ca Để tưởng nhớ Kosliarevskij (1838).

Ngày 22 tháng Tư năm 1838 Shevchenko được trả lại tự do làm người, chấm dứt thân phận nô lệ trong tay chúa đất. Với Giấy chứng nhận trả lại tự do Shevchenko được nhận vào Viện Hàn lâm Mỹ thuật làm học trò giáo sư hoạ sĩ danh tiếng Briunlov. Ấn tượng mạnh mẽ của sự đổi đời ấy được nhà thơ ghi lại trong trường ca Katerina (1838) bước đầu thể hiện được tính phản kháng xã hội thông qua cái chết của nhân vật nữ Katerina như một sự xung đột điển hình của thời đại Đế chế Nga. Lúc này Shevchenko chưa có tên tuổi trên văn đàn Nga, nhưng chỉ hai năm sau, tháng Tư 1840, báo chí đã nhiệt liệt hoan nghênh truyện thơ Người hát rong của ông.

Tập thơ nhanh chóng trở thành cuốn sách gối đầu giường của những người nông nô cùng cảnh ngộ. Theo lời của những người đương thời, hầu hét những gia nhân nông nô nhà mụ chúa đất Sukhanova đều thuộc nằm lòng nhiều đoạn, nhiều chương trong truyện thơ Người hát rong. Chủ đề tư tưởng và nghệ thuật gần gũi với dân ca của truyện thơ đã thu hút đông đảo người đọc. Nhà thơ lão thành Kvitka Osnovianenko phấn chấn viết thư cho Shevchenko: “Tôi bắt đầu đọc thơ… chao ôi! Tóc trên đầu tôi lơ thơ mà cứ dựng đứng lên. Bà nhà tôi sụt sùi. Tôi ép chặt tập thơ của anh vào ngực. Tuyệt quá, tuyệt quá… Tôi không biết nói gì hơn”. Còn Bielinskij trong Ký sự Tổ quốc đã bình luận: “Tên tuổi Shevchenko nếu chúng ta không lầm thì mới xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn Nga, và chúng ta cảm thấy vui sướng hơn khi được đón chào nhà thơ với cuốn sách hoàn toàn xứng đáng được sự tán thưởng của giới phê bình.

Những bài thơ của Shevchenko rất khó phân biệt với những sáng tác dân gian, bởi nó tự nhiên chân chất khiến đọc lên ta sẽ dễ dàng cho đó là những bài dân ca và truyền thuyết của người dân Tiểu Nga (tức Ukraina – NXH), chỉ cái đó thôi cũng đủ nâng cao rất nhiều giá trị những bài thơ của Shevchenko”.

Nói lên tâm tư và nỗi niềm của người dân lao động bị chà đạp nhân phẩm, bị đè nén áp bức, Shevchenko đã trở thành nhà thơ đích thực của nhân dân. Nhà thơ không thi vị hoá cuộc sống của quần chúng nhân dân mà tiếp thu và khám phá ý nghĩa quan trọng của việc miêu tả chân thật sự thật cay đắng của cuộc đời dưới triều đại bạo tàn Nicolai Đệ nhất. Điều trước tiên mà nhà thơ hằng tâm niệm là phải lăn lộn với cuộc sống, cùng ăn cùng ở với nhân dân. Shevchenko viết: “Muốn hiểu con người cần phải sống với họ. Muốn miêu tả họ thì chính anh phải trở thành con người chứ không phải là kẻ phung phí giấy mực”. Nhà thơ đã hành động theo lời tâm niệm đó, trở thành người đầu tiên trong số các nhà văn Ukraina nắm vững phương pháp hiện thực phê phán. Trường ca Nghĩa quân (1841) xuất bản sau đó được nhà thơ sáng tác theo phương hướng này.

Tiếp theo, tập thơ Ba năm (1843-1845) cũng như toàn bộ sáng tác của Shevchenko đều thấm đậm những âm điệu dân ca. Chất trữ tình là cái vốn có trong thơ ca Shevchenko được nâng cánh thêm bởi tư tưởng dân chủ cách mạng của nhà thơ. Dù trước sau Shevchenko là nhà thơ trữ tình, nhạy cảm, nhưng đồng thời ông cũng là nhà thơ không né tránh những xung đột xã hội, mạnh dạn tố cáo mọi bất công trong xã hội đương thời. Nhà thơ kêu gọi nông dân làm một cuộc cách mạng đổi đời với lời thơ mộc mạc thấm sâu vào lòng người: Hãy đào mồ chôn tôi/ Và đứng dậy bạn ơi/ Lấy máu thù rửa hận/ Ta xây đời tự do (Di chúc)

 Người dân Ukraina gọi Shevchenko là Người hát rong vĩ đại (hay là Ca sĩ nhân dân). Shevchenko thực sự được thừa nhận là người đại diện của nhân dân để nói lên nguyện vọng của họ. Điều này có thể dễ dàng tìm thấy trong trường ca Giấc mơ (1844). Dưới ngòi bút trào lộng sâu cay của nhà thơ toàn bộ chế độ quân chủ chuyên chế của Đế chế Nga và bản thân Nga hoàng Nhicolai Đệ nhất đã bị phơi trần.

Những vần thơ căm phẫn

Shevchenko đã nói lên sự phản kháng – tuy còn tự phát – đối với sự bất công xã hội, nói lên nguyện vọng nung nấu muốn thay đổi chế độ xã hội. Chúng ta không hề ngạc nhiên khi thấy trong thơ ca thời kỳ đầu của Shevchenko xuất hiện hình ảnh những con người bần cùng, khốn quẫn nhất của xã hội. Đó là anh nông nô tứ cố vô thân, là các chị, các cô gái nô tì bị đau khổ vì sự hà hiếp, vì những thói rởm đời của bọn chúa đất có thế lực, là những con thơ đói lả bên bờ giậu, là người vợ goá bị thúc thuế, người con trai trụ cột của gia đình bị bắt lính vô thời hạn, là người phụ nữ nông nô còng lưng ngày đêm làm đủ mọi việc lao dịch cho nhà chúa đất. Điển hình nhất về phương diện này là trường ca Katerina (1838).

Trong nền văn hoá thế giới thế kỷ 19 khó có thể tìm thấy tác phẩm nào mà số phận một cô gái nông nô bị quyến rũ, bị làm nhục và bị ruồng bỏ được miêu tả với tính nhân đạo sâu sắc như trong trường ca Katerina của Shevchenko. Trong trường ca đầu tiên này, nhà thơ đã hướng người đọc chú ý đến sự nhẫn nhục, sự cam phận hèn mọn của lớp người chịu lặng câm muôn thuở. Nhà thơ cũng đau xót vạch ra niềm ước mong bé bỏng của cô gái nông nô muốn được đem đứa con trai bất hạnh quay trở về với gã sĩ quan bạc tình, nghĩa là mong nhận được một “sự che chở” mỏng manh, yếu ớt.

Sự thật đau lòng của những người cùng giai cấp, cùng cảnh ngộ không thể tồn tại mãi trên đất nước Nga được. Cùng với sự phát triển của xã hội, Shevchenko không chỉ dừng lại ở tình thương đối với lớp người bị đau khổ, mà nhà thơ đã biểu lộ thái độ phản kháng rõ rệt, thái độ của lớp người đã bắt đầu biết gột bỏ “sự nhẫn nhục mê muội” để vùng lên với tư thế đường hoàng tràn đầy lòng tự tin.
Trường ca Những người mới nhập đạo là lời kêu gọi đấu tranh, kêu gọi nhân dân đứng lên làm cách mạng. Chính tác giả chỉ ra rằng bản trường ca này “hình như được rút từ lịch sử La Mã”. Thực ra đó chỉ là một thủ pháp nghệ thuật mượn câu chuyện cổ La Mã, chuyện tên bạo chúa Neron để mô tả nước Nga nông nô của Nga hoàng, mô tả những kẻ chuyên chế độc tài, những tên chúa đất, đồng thời bên cạnh đó mô tả nhân dân bị áp bức và các chiến sĩ quên mình vì tự do của nhân dân. Nhà thơ đã vẽ nên một nước Nga “nhà tù của các dân tộc” đang đẩy nhân dân Nga vào hoàn cảnh tối tăm: Gia đình nào nước mắt cũng thành sông/ Bởi người thân bị giam cầm ngục tối/ Hay bị đày nơi heo hút xa xăm…

Đó chẳng phải là nước Nga của Nga hoàng Nicolai Đệ nhất một thời đứng vữngg được nhờ bộ máy cảnh sát và những vụ khủng bố đẫm máu dưới ngọn roi của Phòng Ba đứng đầu là tên trùm cảnh sát Benkendorg đó sao?

Nhà thơ tin rằng nhân dân sẽ chiến thắng bọn áp bức, bóc lột. Những người cách mạng bị đoạ đày nay đứng vào đội ngũ các chiến sĩ chống lại chế độ chuyên chế lãnh sứ mạng lịch sử cổ vũ nhân dân vùng lên: Hỡi bạo chúa Nêrông, ngươi chẳng thoát/ Toà án thiên đình giây lát sẽ hiện ra/ Sẽ xét xử ngươi trên đường cái lại qua.

Nhưng với “những chiến sĩ phục thù thần thánh” thì Shevchenko nhiệt thành yêu mến và kính trọng: Hãy ngợi ca/ Ngợi ca các anh, những tâm hồn tươi trẻ/ Ngợi ca các anh, những hiệp sĩ thánh thần/ Đến muôn đời ngợi ca mãi không thôi…
Người đọc sẽ hiểu ngay “những hiệp sĩ thánh thần” này chính là “những người Nga đầu tiên rung tiếng chuông tự do”.

Trong bài thơ nổi tiếng khác Không nói gở đâu, tôi nào có ốm đau… viết ngày 22 tháng 11 năm 1858, Shevchenko đã đả phá ảo tưởng đặt tất cả hy vọng vào Nga hoàng Aleksandr Đệ nhị của các “uỷ ban nông dân” và một lần nữa dứt khoát khẳng định, ngoài chiếc rìu của chính mình thì nhân dân đừng nên trông mong vào cái gì khác: Hoài hơi nằm há miệng/ Điềm lành đừng chờ trông/ Tự do không tự đến/ Bởi bùa mê Nga hoàng…/ Chúng dân cùng chung sức/ Rèn cho sắc búa, dao/ Lưỡi rìu ta nắm chắc/ Cùng đi thức tự do.

Rõ ràng trong lòng nhà thơ trỗi dậy mối căm phẫn và sự phản kháng sâu sắc, mặc dù nhà thơ phải sống cuộc đời khổ ải của anh lính quèn bị ràng buộc bởi chế độ quân dịch hà khắc. Nhà thơ đã nói lên một cách tự hào tiếng nói của lớp người bị áp bức, đè nén “Ta bị trừng phạt, ta bị đoạ đày… nhưng ta không hề hối tiếc”.

Chính vì vậy thời kỳ này (1859-1861), khi nhà thơ đã ý thức sâu sắc trách nhiệm làm người báo hiệu một ngày mới sẽ đến, trong các bài thơ trữ tình, yêu nước và chính trị của Shevchenko ta thường thấy xuất hiện hình ảnh mặt trời rực rỡ, xua tan đêm dài tăm tối, bởi nhà thơ tin chắc sẽ đến ngày: Trên ngai vàng lũ vua quan run rẩy/ Chân lý sẽ ca vang trên trái đất này!

Và lúc đó nhân dân, trong đó có những người nông nô cùng cảnh ngộ với nhà thơ, sẽ thức tỉnh: Ngày mai đây trăm họ muôn người/ Sẽ đàng hoàng đứng lên phán xét: Nga hoàng kia đưa lên đoạn đầu đài!

Đến lúc đó trước mắt nhân dân lao động sẽ mở ra một chân trời mới tự do, rộng bao la. Nhà thơ cảm thấy lòng rạo rực khi hướng tới tương lai đầy sáng tạo đó.

                                              ***
Đối với nhân dân Taras Shevchenko là Người hát rong vĩ đại (Ca sĩ nhân dân), nhưng nhà thơ mang nặng “mối hận thù với chế độ nông nô và với tất cả mọi con đẻ của nó”. Shevchenko là người đầu tiên ỏ Ukraina đã hoạt động chính trị ỏ nửa đầu thế kỷ 19, và sau đó trở thành nhân vật quốc tế.

Shevchenko có quan hệ chặt chẽ với những người đại diện cho nền văn hóa và văn học Ukraina, đồng thời cũng có quan hệ gần gũi với danh hoạ Briunlov của nước Nga, đọc và trăn trở với văn thơ Pushkin, Gogol và đặc biệt ngưỡng mộ các chiến sĩ Tháng Chạp tham gia cuộc khởi nghĩa lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng vào tháng Chạp năm 1825. Shevchenko là người cùng chí hướng và bạn thân thiết với Trernưshevskij và Dobroliubov. Nhân cách chính trị của Shevchenko đã hình thành và uy tín của nhà thơ cũng được nâng cao bởi hai nền văn hoá Ukraina và Nga.

Sau cuộc khởi nghĩa của những chiến sĩ Tháng Chạp năm 1825, vào những năm 30 sau đó Taras Shevchenko lại được tiếp xúc thêm với tác phẩm Nỗi khổ vì có trí tuệ của Griboedov, nhiều bài thơ ca ngợi tự do của Pushkin, vở Quan thanh tra của Gogol, bài thơ Cái chết của nhà thơ của Lermontov. Năm 1840 xuất hiện tập thơ đầu tiên của Shevchenko – đó là tập Ngươì hát rong. Trong tập thơ này tuy chỉ gồm 8 bài thơ nhưng đã được dư luận chú ý. Tạp chí Ký sự Tổ quốc nhận định, trước Người hát rong trong nền văn học Ukraina chưa thấy xuất hiện tác phẩm nào mang tính nhân dân sâu sắc đến như vậy.

Lời dự báo của Bielinskij được khẳng định trong các tác phẩm tiếp sau của Shevchenko: các trường ca Nghĩa quân (1841), Kẻ tà đạo (1845), Kavkaz (1845), Giấc mơ (1844), Những người mới nhập đạo (1857), trong các bài thơ Di chúc (1845), Kẻ ngây dại (1857) v.v… Những thi phẩm viết trong những thời kỳ khác nhau cho thấy Shevchenko đã trải qua chặng đường sáng tạo đầy gian lao từ lãng mạn cách mạng đến hiện thực phê phán và tiến tới việc sử dụng thể thơ trào phúng sâu cay. Bởi vậy cội nguồn thi pháp có tính chất cách mạng của Shevchenko cũng nằm trong nền văn học Nga nửa đầu thế kỷ 19.

Nếu phân tích sáng tác thời kỳ đầu của Shevchenko chúng ta nhận thấy rằng đa số thi phẩm của nhà thơ đã sử dụng kinh nghiệm giải thích theo xu hướng công dân các đề tài lịch sử, kinh nghiệm của các nhà thơ - chiến sĩ Tháng chạp 1825, trước hết là kinh nghiệm của Rưleev, như ảnh hưởng trường ca Nalivaiko của Rưleev trong bài thơ Hồi ức thương đau chẳng hạn. Bài thơ này được viết tại trang ấp công tước Revnhin, em trai Sergei Vonkonskij, một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa tháng Chạp. Trong hoàn cảnh nước Nga dưới chế độ nông nô trường ca Nghĩa quân đầy tính lãng mạn cách mạng được đón nhận như một thi phẩm mang âm hưởng cách mạng. Năm 1861 trường ca này được dịch ra tiếng Nga và đăng trên tờ tạp chí Người đồng thời của các chiến sĩ dân chủ cách mạng.

Dựa vào kinh nghiệm của Pushkin, khi bắt đầu văn nghịêp Shevchenko là người theo chủ nghĩa lãng mạn nhưng khi bước vào lịch sử nền văn học Nga thì lại là người sáng lập ra trào lưu hiện thực, và dựa vào kinh nghiệm của Lermontov, khi bước vào văn đàn Shevchenko là người theo chủ nghĩa lãng mạn nhưng khi đi vào lịch sử nền văn học lại đứng trên tư cách nhà văn biết phát huy khuynh hướng hiện thực phê phán qua tiểu thuyết Người anh hùng của thời đại (của Lermontov).

Trong các thi phẩm Shevchenko coi mình là nhà thơ của cuộc cách mạng nông dân, nhà thơ kêu gọi phá xiềng gông nô lệ/ lấy màu thù rửa hận/ xây dựng một gia đình mới tự do.

Như vậy là, tiếp nhận những truyền thông của nền văn học Nga, Shevchenko tiếp tục phát triển thi pháp thành một khuynh hướng hiện thực phê phán, và sau này đã trở thành phương pháp sáng tác chủ đạo của nền văn học Nga và Ukraina thế kỷ 19.                       
 

THƠ TARAS SHEVCHENKO
         (Nguyễn Xuân Hòa dịch)
                *
            
           BÀI THƠ BALÁT

Mở đầu Truyện thơ Người hát rong (1840)   

Dòng Đnhiep mênh mang gào rền rĩ
Gió giận dữ chồm lên hàng liễu rủ
Rồi cuộn tung những đợt sóng cồn
Đến chân trời xám ngắt mù sương
Trăng mờ ảo luồn mây u ám
Thoắt ló mặt, thoắt  ẩn mình như trốn
Tựa lá thuyền con giữa biển lênh đênh
Lúc chao mình, lúc cưỡi sóng trườn lên…
Hết eo óc gà thôi gáy sáng
Chỉ còn nghe trong đêm vắng lặng
Tiếng cây rừng kèn kẹt canh khuya
Tiếng con chim đập cánh giữa sương mờ.      

           
            DI CHÚC

       Tôi có mệnh hệ nào
        Thì vùi sâu ba thước đất
        Giữa thảo nguyên bao la
        Của Tổ quốc mến yêu Ukraina…

        Hãy đào mồ chôn tôi
        Trên gò đất
        Cho tôi phóng tầm nhìn ra dòng Đnhiép
        Và lắng nghe tiếng sóng cồn trên sông.

        Trên những cánh đồng
        Khi máu thù loang đỏ lòng sông
        Cuộn trôi đi theo dòng Đnhiép
        Thì lúc ấy,

        Dưới mồ chôn tôi đứng dậy
        Và bay vút lên tận cổng Trời
        Tôi sẽ cầu nguyện đôi lời
        Nhưng Thượng đế là ai tôi nào biết.

        Hãy đào mồ chôn tôi
        Và đứng dậy bạn ơi
        Lấy máu thù rửa hận
        Ta xây đời tự do.

        Từ đây sum họp gia đình lớn
        Trăm họ một nhà sống tự do
        Thầm thì khe khẽ lời êm dịu
        Hãy nói khi nào nhớ tới tôi.
        Perejaslav, 25 tháng Chạp 1845

       
KHÔNG ĐỀ

Đằng đẵng bao ngày trên biển vắng
Nay về neo lại bến Đa-ri-a
Bạn bè vui nhận thư nhà tới
Ấm lòng người đọc, trạnh lòng ta.
Bên bạn ta nằm chuyện chẳng khuây
Biết tìm đâu ở thế gian này
Một lá thư nhà hay bóng mẹ
Giây phút cho lòng bớt đắng cay
- Anh có một mình? - Thế vợ anh?
Còn đàn con nhỏ, mái lều tranh
Chị gái, mẹ hiền, ai còn, mất?
Sao chẳng một dòng gửi tới anh…
           
                KHÔNG ĐỀ
       
Sẵn sàng rồi, buồm đà giương cánh
Đoàn thuyền rời bến ngược Đaria
Dòng sông xanh giữa đôi bờ xanh cói
Xa nhau rồi, hỡi Aran hoang sơ!
Cám ơn nhé, Aran hai năm trọn
Bạn giúp tôi quên mọi nỗi buồn đau
Hãy vui lên, loài người tìm thấy bạn
Biết làm gì với bạn mai sau
Tạm biệt nhé mảnh đất này của bạn
Tôi không oán hờn cũng chẳng ngợi ca
Rồi một ngày nào đó ở nơi xa
Tôi sẽ lại thấy nỗi buồn lữ thứ
Của tháng ngày trải nếm xứ Aran.   
  
           ***

 

        Tôi sẽ sống ở đời này hay chết
        Trên đất Ukraina, mảnh đất thân thương
        Người đời dù quên hay vẫn nhắc tên
        Đối với tôi, phải rồi, không can hệ
        Phận nô lệ giữa những người xa lạ
        Tôi lớn lên trong nước mắt khổ đau
        Dù thác đi, thân dẫu xuống mồ sâu
        Tôi gói ghém, chết mang theo tất cả
        Dù đời sau không ai còn nhớ nữa
        Lãng quên tôi trong đau khổ buồn thương
        Trên đất Ukraina, mảnh đất vinh quang
        Ukraina ta đó – mà như giữa đất khách quê người,
        Cha thân yêu không nói với con trai
        Rằng tôi đã sống trên đời như nô lệ:
        « Vì Ukraina con nguyện cầu, con nhé! »
        Chỉ một điều nhắc nhủ trong tôi:
        Đất nước Ukraina bị lũ người gian ác 
        Ru ngủ canh dài, chúng ra tay cướp bóc 
        Ôi! Điều này tôi không thể làm ngơ

Nguyễn Xuân Hoà

----------------------

(theo tạp chí Người bạn đường của Hội VHNT Việt Nam tại Liên bang Nga)

Bình luận
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
» V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa