Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23280071
Số người đang online:
55
Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
Tôi nhớ chúng tôi đã chạy qua rừng ra sao, đạn rít bên tai, những cành cây gãy đổ, chúng tôi chui qua những bụi táo gai. Đạn bắn rát hơn.

Bốn Ngày

chiến thắng của Nữ hoàng Ekaterina trước quân Thổ Nhĩ Kỳ (1772),

Tôi nhớ chúng tôi đã chạy qua rừng ra sao, đạn rít bên tai, những cành cây gãy đổ, chúng tôi chui qua những bụi táo gai. Đạn bắn rát hơn. Ngoài bìa rừng thấp thoáng cái gì đó màu đỏ. Sidorov, cậu binh nhì trẻ măng (“không biết sao hắn rơi vào đội của bọn ta?” – tôi thoáng nghĩ), đột nhiên ngồi bệt xuống đất và lặng nhìn tôi với đôi mắt mở to kinh hãi. Một dòng máu chảy ra từ miệng cậu ta. Phải, tôi nhớ rất rõ cảnh đó. Tôi còn nhớ gần như ngay ở bìa rừng, trong những bụi cây rậm rạp, tôi trông thấy… hắn ta. Hắn là một tên Thổ to lớn, nhưng tôi lao thẳng vào hắn, mặc dù tôi yếu và gầy nhom. Cái gì đó đổ phịch xuống, một cái gì đó, tôi cảm thấy thế, rất to lớn bay ngang qua, rít lên trong tai. “Đó là hắn vừa bắn mình” – tôi nghĩ. Còn hắn ta rú lên kinh hãi, tựa lưng vào bụi táo gai. Có thể đi vòng quanh bụi táo, nhưng vì sợ quá nên hắn chẳng nhớ gì cả và lao thẳng vào những cành cây đầy gai. Chỉ một phát tôi tước được súng của hắn, phát tiếp theo lưỡi lê của tôi đâm thọc vào một cái gì đó. Một âm thanh không ra tiếng rống, cũng chẳng phải tiếng rên. Tôi bỏ chạy tiếp. Quân ta reo lên: “U ra!”, ngã xuống, nổ súng.
Tôi nhớ mình cũng bắn vài phát, và đã ra tới khoảng trống ngoài bìa rừng. Bỗng nhiên tiếng “U ra” vang lên to hơn, và chúng tôi lập tức vượt lên phía trước. Nghĩa là không phải chúng tôi, mà là quân ta, bởi vì tôi thì ở lại. Tôi cảm thấy rất lạ. Lạ hơn nữa là bỗng nhiên mọi thứ biến mất hết; mọi tiếng la hét và tiếng súng nổ bỗng câm lặng. Tôi không nghe thấy gì hết, mà chỉ thấy một cái gì đó xanh xanh, có lẽ là bầu trời. Rổi sau đó cả nó cũng biến mất.
Tôi chưa bao giờ rơi vào tình trạng kỳ lạ như vậy. Hình như tôi đang nằm sấp và chỉ nhìn thấy ở phía trước một mẩu đất bé tí. Một vài ngọn cỏ, một con kiến chúi đầu bò ra từ một ngọn cỏ, mấy mẩu rác từ đám cỏ năm ngoái – đó là toàn bộ thế giới của tôi. Và tôi nhìn thấy nó chỉ bằng một con mắt, bởi con kia bị cái gì đó cứng cứng, chắc là cành cây mà đầu tôi đang tựa vào, che bịt mất. Tư thế của tôi thật hết sức bất tiện, tôi rất muốn, nhưng hoàn toàn không hiểu tại sao mà mình không thể nhúc nhích được. Cứ thế thời gian trôi qua. Tôi nghe thấy tiếng dế gáy, tiếng ong bay rù rì. Ngoài ra chẳng có gì cả. Cuối cùng tôi gắng hết sức giải phóng tay phải bị đè dưới thân mình, và tì hai tay xuống đất định quỳ gối ngồi dậy.
Một cái gì đó sắc và nhanh như tia chớp đâm xuyên vào toàn thân tôi từ đầu gối đến ngực đến đỉnh đầu, và tôi lại ngã xuống. Lại bóng đêm bao phủ, lại chẳng thấy gì hết.
Tôi tỉnh dậy. Tại sao tôi lại nhìn thấy những vì sao chiếu rất sáng trên bầu trời Bulgaria đen thẫm? Chẳng lẽ tôi không nằm trong lán trại? Tại sao tôi lại ra khỏi đó? Tôi ngọ nguậy và thấy đau ghê gớm ở hai chân.
Phải rồi, vậy là tôi đã bị thương trong trận đánh. Có nguy hiểm hay không nhỉ? Tôi nắm lấy chân mình, nơi mà tay tôi chạm tới được, thì thấy đau nhiều hơn. Cơn đau, giống như đau răng vậy, thường xuyên, buốt tận óc. Trong tai kêu ong ong, đầu trĩu nặng. Tôi mù mờ hiểu rằng mình bị thương cả hai chân. Chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao người ta không nhấc tôi lên? Chẳng lẽ bọn Thổ đã đánh tan quân ta? Tôi bắt đầu nhớ lại chuyện xảy ra với mình, đầu tiên còn lờ mờ, nhưng sau rõ ràng hơn, và đi đến kết luận là chúng tôi hoàn toàn không bị đánh tan. Vì sao tôi ngã xuống (tuy nhiên điều này tôi không nhớ, nhưng tôi nhớ mọi người chạy lên phía trước như thế nào, còn tôi không chạy được, mà chỉ thấy cái gì đó xanh xanh ở trước mắt), và tôi ngã xuống ở khoảng trống ngoài bìa rừng phía trên ngọn đồi. Anh chỉ huy tiểu đoàn vóc người nhỏ bé đã chỉ cho chúng tôi khoảng trống đó. “Anh em ơi, chúng ta sẽ ra đó!” – anh ta hét lên lanh lảnh. Và chúng tôi đã ở đó, nghĩa là chúng tôi không bị đánh tan… Vậy thì tại sao mọi người không mang tôi đi? Ở đây thoáng rộng thế này, có thể thấy rõ mọi thứ. Có lẽ tôi không nằm đây một mình. Họ bắn đạn rát thế cơ mà. Cần phải quay đầu ngó xem mới được. Bây giờ làm việc đó dễ hơn, bởi lúc tôi tỉnh dậy nhìn thấy cọng cỏ và con kiến bò dưới đầu, tôi đã gượng nhỏm dậy rồi ngã xuống không theo tư thế cũ nữa, mà nằm ngửa ra. Bởi vậy nên tôi mới nhìn thấy những vì sao. Tôi nhỏm lên và ngồi dậy. Điều này rất khó khăn, khi cả hai chân đều bị gãy.  Mấy lần phải tuyệt vọng, cuối cùng, trào nước mắt vì đau đớn, tôi cũng ngồi dậy được.
Trên đầu tôi là một khoảnh bầu trời xanh thẫm, trên đó cháy lên một ngôi sao lớn và vài ngôi sao nhỏ, xung quanh là cái gì đó tối đen và cao. Đó là những bụi cây. Vậy ra tôi ở giữa bụi cây, và mọi người không tìm thấy tôi!
Tôi cảm thấy những chân tóc trên đầu cựa quậy.
Tuy nhiên làm sao mà tôi lại ở trong bụi cây, trong khi chúng bắn tôi ở ngoài bãi trống? Chắc là lúc bị thương tôi đã bò tới đây, nhưng đau quá nên chẳng nhớ gì. Chỉ lạ rằng bây giờ tôi không thể cử động được, mà sao lúc đó lại có thể lê đến tận những bụi cây này. Có thể lúc đó tôi mới bị một vết thương, còn viên đạn thứ hai trúng tôi khi tôi đã ở đây.
Những đám màu hồng nhợt nhạt vây xung quanh tôi. Ngôi sao lớn nhạt đi, một vài ngôi sao nhỏ biến mất. Đó là mặt trăng vừa lên. Nếu được ở nhà thì tuyệt biết bao!...
Những âm thanh kỳ lạ nào đó vọng tới chỗ tôi… Dường như có ai đó đang rên. Phải, đó là tiếng rên. Có ai cũng bị bỏ quên với đôi chân gãy hay vết đạn trên bụng đang nằm gần chỗ tôi không nhỉ? Không, những tiếng rên rất gần, mà cạnh tôi hình như chẳng có ai… Ôi Chúa ơi, hoá ra đó chính là tôi! Những tiếng rên khe khẽ, ai oán; chẳng lẽ tôi thực sự đau đớn đến thế? Có lẽ là vậy. Chỉ có điều tôi không hiểu cái đau này, bởi trong đầu tôi là đám sương mù, là viên đạn chì. Tốt hơn là nằm xuống và thiếp đi, ngủ, ngủ… Chỉ không biết có lúc nào tỉnh lại được hay không? Thôi mặc kệ.
Vào giây phút tôi chuẩn bị nằm xuống, thì một vầng ánh trăng lớn nhợt nhạt chiếu rõ chỗ tôi, và tôi nhìn thấy một cái gì đó tôi tối, to thù lù cách tôi chừng năm bước chân. Trên nó có những vệt sáng do ánh trăng chiếu vào. Đó là những chiếc khuy áo hay đồ quân nhu. Một cái xác, hoặc một người bị thương.
Mặc kệ, tôi nằm xuống...
Không, không thể thế được! Quân ta chưa đi khỏi. Họ vẫn còn ở đây, họ đánh tan bọn Thổ và ở lại vị trí này. Thế tại sao lại không một tiếng nói, không có tiếng củi lửa cháy ? Chắc tại tôi yếu quá nên không nghe thấy gì. Chắc là họ đang ở đây.
“Giúp tôi với!.. Giúp tôi với!”
Những tiếng kêu khàn khàn hoang dại bật ra từ lồng ngực tôi, nhưng không tiếng đáp lại.  Những tiếng kêu lan to trong không trung. Mọi thứ còn lại đều câm lặng. Chỉ những con dế vẫn rỉ rả không ngừng như trước. Mặt trăng tròn vạnh nhìn tôi u sầu.
Nếu như hắn bị thương, chắc hẳn hắn sẽ tỉnh dậy vì tiếng kêu như thế. Đó là cái xác. Của ta hay của quân Thổ? Ôi Chúa ơi! Cũng như nhau mà thôi! Và cơn buồn ngủ kéo xuống đôi mắt sưng húp của tôi.
Tôi nằm nhắm mắt, mặc dù đã thức dậy từ lâu. Tôi không muốn mở mắt vì cảm thấy tia nắng xuyên qua hàng mi khép kín: nếu như tôi mở mắt, nó sẽ xé mắt tôi. Tốt hơn là không nhúc nhích… Hôm qua (hình như đó là hôm qua) tôi bị thương; một ngày đêm đã trôi qua, những ngày khác cũng sẽ qua, tôi sẽ chết. Mặc kệ. Tốt hơn là đừng nhúc nhích. Hãy để thân thể bất động. Giá mà dừng cả hoạt động của não lại được! Nhưng không gì ngăn nó lại được. Những ý nghĩ, những hồi tưởng đầy trong đầu. Tuy nhiên, chỉ không lâu nửa đâu, sắp kết thúc rồi. Trên các tờ báo sẽ chỉ còn vài dòng, rằng con số thương vong của quân ta không đáng kể, bị thương chừng này người, và binh nhì Ivanov trong đội tình nguyện quân đã hy sinh. Không, họ sẽ không ghi họ tên, đơn giản chỉ nói: một người hy sinh. Một anh binh nhì, như con chó con kia…
Một bức tranh hiện ra rõ rệt trong trí tưởng tượng của tôi. Chuyện xảy ra lâu lắm rồi, tuy nhiên, tất cả cuộc đời tôi, cuộc đời lúc tôi còn chưa nằm đây với đôi chân gãy, đều thành lâu lắm rồi… Tôi đang đi trên phố thì vấp phải một đám đông. Đám đông đó đang lặng lẽ ngắm nhìn một cái gì đó trăng trắng, đẫm máu, rít lên sầu não. Đó là một con chó con xinh xắn. Một cỗ xe ngựa chạy trên đường sắt đã nghiến qua nó. Nó đang hấp hối, giống như tôi bây giờ. Một người gác cổng nào đó rẽ đám đông, xách cổ nó và mang đi. Đám đông giải tán.
Có ai đó sẽ mang tôi đi không? Không, cứ nằm mà chết đi. Mà cuộc đời thì đẹp làm sao!.. Vào ngày hôm đó (cái hôm xảy ra chuyện bất hạnh với con chó), tôi đang rất hạnh phúc. Tôi bước đi trong tâm trạng đê mê, vì có lý do nào đó. Thôi, những kỷ niệm kia ơi đừng dày vò ta nữa, hãy để ta yên! Hạnh phúc ngày xưa, những đau đớn bây giờ… hãy để lại chỉ những đớn đau, đừng để ký ức dày vò, những ký ức vô tình khiến ta phải so sánh. Ôi chao, nỗi buồn, nỗi buồn. Mày còn tệ hơn những vết thương.
Tuy nhiên trời trở nên nóng bức. Mặt trời thiêu đốt. Tôi mở mắt, vẫn thấy những bụi cây đấy, bầu trời đấy, chỉ khác là dưới ánh sáng mặt trời. Và kia là hàng xóm của tôi. Phải, đó là tên Thổ, một cái xác. Sao mà to lớn thế! Tôi nhận ra hắn, chính cái tên mà…
Nằm phía trước tôi là con người mà tôi đã giết chết. Tại sao tôi lại giết hắn ta?
Hắn nằm đây, chết cứng, đẫm máu. Tại sao số phận lại xua đuổi hắn tới đây? Hắn là ai? Có lẽ, hắn cũng như tôi, có một bà mẹ già. Bà cũng sẽ mỗi buổi chiều ngồi rất lâu bên cửa túp lều nghèo nàn và ngóng nhìn về phía bắc xa xôi: thằng con trai yêu dấu của bà, lao động chính và người nuôi nấng bà không biết có về không?...
Còn tôi thì sao? Cả tôi cũng thế… Thậm chí giá tôi đổi chỗ cho hắn được. Hắn sung sướng làm sao: hắn chẳng nghe thấy gì, chẳng đau đớn vì vết thương, chẳng cảm thấy nỗi buồn chết người, chẳng thấy cơn khát… Lưỡi lê đâm thẳng vào tim hắn… Trên áo hắn một lỗ thủng lớn đen ngòm thế kia, xung quanh là máu. Đó là tôi đã làm ra thế.
Tôi không muốn điều đó. Tôi chẳng muốn làm điều ác với ai khi ra trận. Ý tưởng rằng mình sẽ phải giết người dường như đã rời khỏi tôi. Tôi chỉ hình dung mình sẽ giơ ngực của mình dưới làn đạn như thế nào mà thôi. Và tôi đã ra trận và giơ ngực ra.
Nhưng rồi sao nào? Đồ ngốc, đồ ngốc! Còn cái anh chàng bất hạnh này (trên mình hắn là chiếc áo quân Ai Cập) hắn còn ít có lỗi hơn. Trước khi bị người ta nhét lên tàu, như nhét lũ cá trích vào thùng, và đưa đến Constantinople, hắn chưa từng nghe đến cả nước Nga lẫn Bulgaria. Người ta ra lệnh cho hắn đi thì hắn đi. Nếu như hắn không đi, người ta có lẽ sẽ đánh hắn bằng gậy, hoặc có thể một pasha nào đó sẽ cho hắn một viên đạn súng lục. Hắn phải trải qua một cuộn hành binh dài, gian khổ từ Istambul đến Rushuk. Chúng ta tấn công, hắn tự vệ. Nhưng rõ ràng rằng chúng ta là những kẻ đáng sợ, những kẻ chẳng ngán gì khẩu súng trường Anh nhãn hiệu Peatbody & Martini Patent của hắn, cứ xông tới, xông tới phía trước. Hắn kinh hoảng. Khi hắn định bỏ chạy, thì một thằng người bé choắt nào đó, mà hắn chỉ cần dùng một nắm bàn tay đen thui của mình đấm một phát là đủ giết chết, bỗng nhảy ra và đâm lưỡi lê vào trúng tim hắn.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------

(1) pasha: một tước vị cao trong hệ thống chính trị của đế chế Ottoman, tương đương như tỉnh trưởng, tướng.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Hắn có lỗi gì nào?
Và cả tôi cũng nào có lỗi gì, mặc dù tôi đã giết hắn? Tôi có lỗi gì? Vì sao mà tôi phải bị cơn khát dày vò? Khát! Ai biết được từ đó có nghĩa gì! Thậm chí khi chúng tôi đi qua Romania, hành quân năm mươi dặm trong cái nóng bốn mươi độ khủng khiếp, khi đó tôi cũng không cảm thấy điều tôi đang cảm nhận bây giờ. Ôi, giá có ai đó đến đây!
Chúa ơi! Có lẽ trong cái bi đông to tướng kia của hắn có nước! Nhưng phải lết được tới chỗ hắn. Sẽ phải trả một giá đắt như thế nào! Nhưng kệ, tôi sẽ tới được.
Tôi bò tới. Hai chân kéo lết, đôi tay yếu ớt khó nhọc đẩy tấm thân bất động. Đến chỗ cái xác chỉ khoảng hai xagien, nhưng với tôi còn xa hơn, không phải xa hơn mà tệ hơn mười dặm. Nhưng vẫn phải bò. Cuối cùng thì nó đây. Cái bi đông… bên trong có nước, rất là nhiều! Có lẽ còn đến hơn nửa bình. Ôi! Tôi có đủ nước để dùng lâu… đến tận lúc chết!
Anh đã cứu tôi, nạn nhân của tôi ơi!.. Tôi bắt đầu mở bi đông, tựa mình vào một khuỷu tay, và bỗng nhiên mất thăng bằng, ngã sấp mặt vào ngực vị cứu tinh của mình. Từ mình anh ta bốc mùi tử khí.
Tôi uống no. Nước ấm nhưng chưa bị thối, hơn nữa lại còn rất nhiều. Tôi sẽ sống thêm được vài ngày. Chợt nhớ trong cuốn “Sinh lý học cuộc sống hàng ngày” có nói rằng con người có thể sống thiếu thức ăn hơn một tuần, miễn là có nước. Phải, ở đó còn kể câu chuyện của người tự tử bằng cách tuyệt thực. Ông ta sống rất lâu vì vẫn uống nước.
Thì sao nào? Nếu như tôi sống thêm năm sáu ngày nữa, thì sẽ ra sao? Quân ta đã đi rồi, quân Bulgaria chạy tản mát cả. Không có con đường nào gần đây. Cuối cùng rồi cũng chết. Chỉ có thay vì ba ngày đau đớn, tôi sẽ chịu cả tuần. Kết thúc luôn chẳng tốt hơn sao? Cạnh người hàng xóm của tôi là khẩu súng của hắn, một tuyệt tác của người Anh. Chỉ cần với tay ra, sau đó – một giây, và kết thúc. Những băng đạn lăn lóc cả đống. Hắn chưa kịp bắn hết.
Sẽ kết liễu mình như vậy hay là chịu đựng? Để làm gì? Đợi giải thoát ư? Cái chết ư? Hay Đợi bọn Thổ tới và bắt đầu lóc da khỏi đôi chân bị thương của tôi? Tốt hơn là tự mình…
Không, không được nhụt chí, tôi sẽ chiến đấu đến tận cùng, đến khi sức tàn lực kiệt. Nếu người ta tìm thấy tôi, tôi sẽ được cứu sống. Có khi xương chưa bị sao, người ta sẽ chữa khỏi cho tôi. Tôi sẽ thấy lại quê hương, gặp lại mẹ, gặp Masha…
Trời ơi, đừng để họ biết toàn bộ sự thật! Cứ để họ nghĩ rằng tôi bị giết chết ngay tức thì. Họ sẽ ra sao nếu biết rằng tôi phải vật vã hai, ba, bốn ngày!
Đầu tôi quay cuồng; hành trình lết đến anh bạn hàng xóm làm tôi hoàn toàn kiệt sức. Lại còn cái mùi khủng khiếp này nữa. Sao hắn ta thâm đen lại thế… rồi ngày mai hay ngày kia còn như thế nào? Và tôi bây giờ nằm đây chỉ bởi vì không còn sức để lết đi nữa. Tôi sẽ nghỉ một lúc và sẽ bò lại chỗ cũ; hơn nữa gió thổi hướng từ đây và đưa mùi thối xa khỏi tôi.
Tôi nằm hoàn toàn bất động. Mặt trời thiêu đốt mặt và tay tôi. Không có gì để che cả. Chỉ mong đêm mau tới, có lẽ sẽ là đêm thứ hai.
Ý nghĩ trở nên lộn xộn, và tôi mê đi.
Tôi ngủ rất lâu, bởi vì khi thức dậy, đêm đã xuống. Mọi thứ vẫn như cũ: các vết thương đau nhức, anh hàng xóm vẫn nằm bên, vẫn to lớn và bất động như thế.

----------------------------------------------------------------------------

(2) xagien: đơn vị đo chiều dài của Nga, bằng 2,134 mét.

----------------------------------------------------------------------------


Tôi không thể không nghĩ về hắn. Chẳng lẽ tôi vứt bỏ tất cả những gì yêu thương, quý giá nhất để hành quân hàng ngàn dặm đến đây, chịu đói, chịu lạnh, bị cái nóng hành hạ, chẳng lẽ cuối cùng tôi nằm đây với những dằn vặt đau khổ - tất cả chỉ để chấm dứt cuộc sống của con người bất hạnh kia? Lẽ nào tôi đã làm được cái gì đó có ích cho những mục đích quân sự ngoài việc giết người kia?
Giết người, kẻ giết người… Đó là ai? Là tôi!
Lúc tôi trù tính đi đánh nhau, mẹ và Masha can ngăn, khóc lóc cho tôi. Mù mắt vì lý tưởng, tôi không nhìn thấy những giọt nước mắt đó. Tôi không hiểu (nhưng bây giờ đã hiểu), rằng mình đã làm gì với những con người thân yêu của mình.
Nhớ lại mà làm gì ? Chẳng thể nào quay lại quá khứ được.
Còn thái độ kỳ lạ nơi nhiều người quen đối với hành động của tôi nữa chứ ! "Đồ mất trí! Chui vào mà chẳng biết cái gì!” Sao họ lại có thể nói như vậy? Những lời nói của họ liên kết thế nào với quan niệm của họ về sự anh hùng, về tình yêu tổ quốc và những thứ khác kiểu như vậy nữa? Bởi trong mắt của họ, tôi là đại diện của tất cả những phẩm chất tốt đẹp đó. Nhưng đồng thời, tôi là “kẻ mất trí”.
Và thế là tôi đi Kishinev, người ta bắt tôi thồ chiếc ba lô và đủ mọi thứ quân trang. Và tôi đi cùng với hàng ngàn người, trong đó chỉ một số giống như tôi, tình nguyện ra đi. Những người khác sẽ ở nhà nếu người ta cho phép. Tuy nhiên, họ cũng đi như chúng tôi, “tự giác”, vượt qua hàng ngàn dặm và đánh nhau cũng giống chúng tôi, thậm chí còn giỏi hơn. Họ hoàn thành nhiệm vụ của mình, dù cho có thể sẵn sàng vứt bỏ và trở về nhà – nếu như được phép.
Ngọn gió lạnh sớm mai thổi tới. Bụi cây lao xao, con chim nhỏ ngái ngủ vụt bay lên. Những ngôi sao đã tắt. Bầu trời xanh thẫm xám lại, đùn lên những đám mây bông mềm, bóng tối nhá nhem cất lên khỏi mặt đất. Bắt đầu ngày thứ ba của… Gọi nó như thế nào nhỉ? Của sự sống? Hay của đớn đau?
Ngày thứ ba… Sẽ còn bao nhiêu ngày nữa? Dù thế nào thì cũng không nhiều… Tôi rất yếu, và có lẽ không thể nhích ra khỏi cái xác nữa. Tôi sắp thành giống anh ta và chúng tôi không còn khó chịu với nhau nữa.
Cần phải uống đủ nước. Tôi sẽ uống ba lần một ngày: sáng, trưa và tối.
Mặt trời đã lên. Bóng to lớn của nó, bị chia cắt bởi những cành cây, đỏ lừ như máu. Hôm nay chắc là sẽ nóng. Anh hàng xóm của tôi, chuyện gì xảy ra với anh vậy? Anh bây giờ cũng rất đáng sợ.
Phải, hắn ta rất đáng sợ. Tóc hắn bắt đầu rụng. Da hắn vốn bản chất đã đen, giờ tái nhợt và chuyển thành màu vàng, khuôn mặt sưng phồng kéo căng lớp da đến độ nó bị rách phía sau tai. Ở đó lúc nhúc giòi. Đôi chân dấu trong giày cũng phồng lên và giữa các khoá giày lòi ra những mụn rộp lớn. Và toàn thân hắn ta trương lên như quả núi. Mặt trời hôm nay sẽ còn làm gì hắn nữa đây?
Nằm gần sát hắn như vậy thật không thể chịu nổi. Tôi phải bò đi khỏi bằng mọi giá. Nhưng liệu tôi có thể bò đi hay không? Tôi vẫn còn có thể nhấc tay lên, mở bi đông, uống nước. Nhưng làm sao xoay được cả tấm thân bất động nặng nề? Nhưng thế nào tôi cũng phải nhích ra, dẫu chỉ một chút, dẫu mất cả giờ để bò được nửa bước.
Cả buổi sáng của tôi trôi qua với việc di chuyển đó. Cơn đau dữ dội, nhưng nó có là gì với tôi bây giờ? Tôi đã không còn nhớ, không thể hình dung cảm giác của một người khoẻ mạnh nữa. Tôi thậm chí quen với cơn đau. Cả buổi sáng tôi đã bò được khoảng hai xagien và lại về chỗ cũ. Nhưng tôi không hưởng không khí trong lành được lâu, nếu như có không khí trong lành ở cách cái xác đang phân huỷ có sáu bước. Gió lại đổi chiều và đưa cái mùi thối tới, kinh khủng đến nỗi tôi phát nôn. Cái dạ dày rỗng tuếch co rút lại đau đớn, mọi thứ trong bụng lộn nhào, còn cái không khí ô nhiễm bốc mùi hôi thối kia cứ bơi về phía tôi. Tôi tuyệt vọng và bật khóc…
Hoàn toàn mệt lử, đờ đẫn, tôi gần như mê man. Bỗng nhiên… Không phải trí tưởng tượng hỗn loạn đánh lừa tôi chứ? Tôi thấy hình như, không. Không, đó đúng là tiếng người. Tiếng vó ngựa, tiếng người nói. Tôi suýt kêu lên, nhưng kìm lại được. Lỡ đó là bọn Thổ thì sao? Nếu vậy thì sao? Sẽ thêm vào những đau đớn khổ sở bây giờ là những đau đớn khác nữa, còn kinh khủng hơn, chỉ nghe nói đến, dù trên báo thôi, cũng đủ dựng tóc gáy. Lóc da, nướng cháy đôi chân bị thương… Nếu chỉ có thế thôi đã tốt, nhưng bọn chúng là những kẻ rất sáng tạo. Chẳng lẽ kết liễu cuộc đời trong tay chúng lại tốt hơn chết ở đây? Nhưng nếu như đó là quân ta thì sao? Ôi cái bụi cây quái quỷ này! Tại sao chúng mày lại mọc thành hàng rào rậm rịt quanh tao như vậy? Chẳng thể nhìn thấy gì qua đám cây, chỉ có một khoảnh như ô cửa sổ nhỏ giữa các cành cây, có thể thấy chỗ trũng ở phía xa. Ở đó có lẽ có một con suối mà chúng tôi đã uống nước lúc trước trận đánh. Phải, có cả một phiến sa thạch lớn bắc ngang con suối như chiếc cầu con. Có lẽ họ đi qua cái cầu đó. Tiếng nói tắt lặng. Tôi không nghe được ngôn ngữ họ nói: cả thính giác của tôi cũng yếu rồi. Trời ơi! Nếu như đó là quân ta… Tôi sẽ hét gọi họ; họ sẽ nghe thấy tôi cả từ chỗ con suối. Thế còn hơn là mạo hiểm rơi vào tay của quân Thổ. Sao bọn họ mãi không đi thế nhỉ? Tôi khổ sở vì nôn nóng, thậm chí không còn ngửi thấy mùi xác chết, dù nó không hề bớt đi tí nào.
Rồi bỗng nhiên trên chỗ cầu bắc qua dòng suối xuất hiện những người Cô dắc! Những chiếc áo khoác màu xanh, những nẹp viền màu đó, những cây thương. Họ có đến cả đại đội. Phía trước là một sĩ quan râu đen ngồi trên con tuấn mã. Đại đội Cô dắc vừa qua con suối, anh ta quay cả người ra sau và hét lên:
- Đi nước kiệu, bước!
- Dừng lại, dừng lại, vì Chúa! Cứu tôi với, cứu tôi, anh em ơi! – tôi kêu lên, nhưng tiếng vó những con ngựa khoẻ mạnh, tiếng giáo va nhau và tiếng nói chuyện ồn ào của đám Cô dắc át tiếng thều thào của tôi. Và người ta không nghe thấy tôi!
Ôi khốn nạn! Tôi kiệt lực ngã sấp mặt xuống đất và bắt đầu nức nở. Từ cái bi đông bị tôi làm đổ, dòng nước, sự sống của tôi, cứu tinh của tôi, sự trì hoãn cái chết của tôi, chảy ra. Nhưng tôi chỉ nhận ra điều đó khi nước trong bình chỉ còn không hơn nửa cốc, còn bao nhiêu đã chui xuống mặt đất khô cháy tham lam rồi.
Liệu tôi còn nhớ được cái cảm giác chết cứng bao trùm lấy tôi sau sự cố kinh hoàng đó chăng? Tôi nằm bất động, mắt nhắm hờ. Gió đổi hướng liên tục, lúc thổi tới tôi không khí tươi mát trong lành, lúc lại phủ lên tôi mùi hôi thối nồng nặc. Anh hàng xóm hôm nay trở nên kinh khiếp không bút nào tả nổi. Một lần mở mắt ngó qua hắn, tôi thất kinh. Khuôn mặt hắn không còn nữa, trụt hết da thịt lòi cả xương. Một đám xương nhe ra nụ cười khủng khiếp, nụ cười vĩnh cửu trở nên kinh tởm, đáng sợ chưa từng thấy, mặc dù tôi không chỉ một lần từng cầm trong tay và mổ xẻ những cái đầu còn nguyên. Cái bộ xương mặc quân phục với những chiếc cúc lấp lánh khiến tôi bủn rủn. "Chiến tranh đấy, - tôi nghĩ, - hình ảnh của nó đấy".
Mà mặt trời thì vẫn thiêu đốt như trước. Hai tay và mặt tôi bị cháy nắng từ lâu. Tôi đã uống hết số nước còn lại. Cơn khát hành hạ ghê gớm, đến nỗi, chỉ định uống một ngụm nhỏ, tôi ực luôn hết tất cả. Trời ơi, sao tôi lại không hét gọi những người Cô dắc khi họ ở gần tôi đến thế! Nếu như đó là bọn Thổ thì cũng vẫn tốt hơn. Chúng hành hạ chỉ một hai tiếng thôi, còn như thế này thì tôi còn không biết mình phải vật vã chịu đựng bao nhiêu thời gian nữa. Mẹ yêu quí của con ơi! Mẹ sẽ bứt những mớ tóc bạc của mình, đập đầu vào tường, nguyền rủa cái ngày mẹ sinh ra con, nguyền rủa cả thế giới đã nghĩ ra chiến tranh để con người phải khổ sở!
Nhưng mẹ và Masha chắc là sẽ không nghe về những đau đớn của con đâu. Vĩnh biệt mẹ, vĩnh biệt vị hôn thê của anh, tình yêu của anh! Chao ơi sao nặng nề, cay đắng quá! Cái gì đó dâng nghẹn dưới tim…
Lại con chó trắng nhỏ đó! Người gác cổng không thương xót vì nó, đập đầu nó vào tường và vứt nó xuống hố, nơi người ta vứt rác và nước thải. Nhưng nó vẫn còn sống. Nó còn vật vã suốt ngày. Nhưng tôi còn bất hạnh hơn nó, bởi vì vật vã những ba ngày. Ngày mai là ngày thứ tư, rồi đến ngày thứ năm, thứ sáu… Thần Chết ngươi ở đâu? Hãy đến đây, đến đây mang tôi đi!
Nhưng cái chết không đến, không mang tôi đi. Tôi cứ nằm dưới mặt trời khủng khiếp đó, không còn lấy một ngụm nước để làm dịu cái cổ họng đã sưng phồng, và cái xác thì đầu độc tôi. Nó hoàn toàn thối rữa. Hằng hà sa số những con giòi rơi ra từ nó. Sao mà chúng đông nhung nhúc! Khi nào hắn bị ăn hết, chỉ còn xương, thì sẽ đến lượt tôi. Và tôi cũng sẽ như thế.
Ngày trôi qua, đêm trôi qua. Vẫn y như thế. Rồi buổi sáng tới. Cũng vẫn như thế. Rồi thêm một ngày nữa…
Bụi cây lay động và xào xạc, như đang trò chuyện khe khẽ. "Anh sẽ chết, sẽ chết, sẽ chết!" – chúng thì thào. "Anh sẽ không trông thấy, không trông thấy, không trông thấy!" đám cây phía khác đáp lại.
- Ở đây anh không trông thấy họ đâu! – vang lên rất to ở gần tôi.
Tôi rùng mình và lập tức bừng tỉnh. Từ trong đám cây, đôi mắt hiền từ xanh biếc của cậu binh nhất Yakolev ngó nhìn tôi.
- Đưa xẻng ra đây! -  cậu ta kêu lên – Đây có hai người, một của ta, một của bọn nó.
"Không cần xẻng đâu, không cần chôn tôi, tôi còn sống!" – tôi muốn kêu lên, nhưng chỉ tiếng rên yếu ớt thoát ra từ đôi môi khô cong của tôi.
-    Chúa ơi! Anh ấy còn sống sao? Cậu chủ Ivanov! Anh em ơi! Lại đây, cậu chủ của chúng ta còn sống! Gọi bác sĩ đi!
Nửa phút sau người ta đổ vào miệng tôi nước, rượu vốt ca hay cái gì đó nữa. Sau đó mọi thứ biến mất.
Cáng thương chuyển động, đung đưa nhịp nhàng. Sự nhịp nhàng đều đều dó ru ngủ tôi. Lúc tôi tỉnh lại, lúc lại mê đi. Những vết thương được băng bó không còn đau đớn nữa, một cảm xúc sung sướng khôn tả tràn ngập thân thể…
- D…ư…ừng lại! H…a…ạ xu…uống! Hộ lý đâu, đổi lần thứ tư, bước đều bước! Cầm cáng thương, nh…â…ấc l…ê…ên!
Đó là Pyotr Ivanych, sĩ quan quân y của chúng tôi, một anh chàng cao kều, gầy nhom và rất tốt bụng đang hô điều khiển. Anh ta cao quá đến nỗi liếc mắt về phía anh ta, tôi luôn trông thấy mái đầu anh ta, mặc dù chiếc cáng được khiêng trên vai bốn người lính cao lớn.
-    Pyotr Ivanych – Tôi thì thào.
-    Sao cơ, anh bạn thân mến? – Pyotr Ivanych cúi xuống bên tôi
-    Pyotr Ivanych, bác sĩ nói gì với anh vậy? Tôi sắp chết phải không?
-    Anh nói gì vậy, Ivanov! Anh không chết đâu. Xương cốt của anh còn nguyên mà. Anh chàng may mắn làm sao! Không bị vào xương, không trúng động mạch. Mà làm sao anh sống được bốn ngày rưỡi qua như vậy? Anh ăn cái gì?
-    Không ăn gì cả.
-    Còn uống?
-    Tôi lấy được bình nước của thằng Thổ. Pyotr Ivanych, tôi không thể nói được bây giờ, để sau nhé.
-    Ồ vâng, Chúa phù hộ anh, bạn thân mến, anh ngủ đi.
Lại thiếp đi, mê man…
Tôi tỉnh dây trong lán quân y của tiểu đoàn. Các bác sĩ, y tá đứng quanh tôi, ngoài họ ra, tôi còn thấy khuôn mặt quen quen của một bác sĩ nổi tiếng ở Petersburg đang cúi xuống xem xét hai chân tôi. Tay ông ta đẫm máu. Ông ta loay hoay với chân tôi không lâu, rồi quay sang nói với tôi:
- Cậu may mắn lắm đấy, chàng trai trẻ ạ! Cậu sẽ sống. Chúng tôi chỉ lấy đi một chân của cậu thôi, nhưng đó là chuyện nhỏ. Giờ cậu đã có thể nói chuyện được chưa?
Tôi đã nói được, và tôi kể cho họ tất cả những gì được ghi lại ở đây.

1877
(Trần Thị Phương phương dịch)

Bình luận
Họ và Tên: Gà mờ   - Địa chỉ:
Cám ơn cậu đã cho chúng tớ đọc ké một câu chuyện hấp dẫn như thế, PP ạ!
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
» V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa