Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23447440
Số người đang online:
43
Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
Nekrasov Elena Anatolievna sinh năm 1964 ở Odessa (Ucraina). Tốt nghiệp khoa Sinh học ĐH Tổng hợp Odessa. Từ năm 1985 đến 1993, hành nghề hội hoạ. Đã có các Triển lãm tranh cá nhân tại Odessa, New York, Hamburg, Munich, Prague. Từ năm 1997 sống tại Matxcơva – Nga, Tốt nghiệp “Viện Đào tạo lại và Nâng cao điện ảnh toàn Nga” (VIPPK). Trở thành nhà biên kịch và đạo diễn phim tài liệu. Từ năm 2005 chuyển sang viết văn xuôi: Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết…

Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova


nhà văn Nekrasov Elena Anatolievna

Vài nét về tác giả: Nekrasov Elena Anatolievna sinh năm 1964 ở Odessa (Ucraina). Tốt nghiệp khoa Sinh học ĐH Tổng hợp Odessa. Từ năm 1985 đến 1993, hành nghề hội hoạ. Đã có các Triển lãm tranh cá nhân tại Odessa, New York, Hamburg, Munich, Prague. Từ năm 1997 sống tại Matxcơva – Nga, Tốt nghiệp “Viện Đào tạo lại và Nâng cao điện ảnh toàn Nga” (VIPPK). Trở thành nhà biên kịch và đạo diễn phim tài liệu. Từ năm 2005 chuyển sang viết văn xuôi: Truyện ngắn, Truyện vừa, Tiểu thuyết…

Ada không biết sợ trời. Hồi nhỏ cô bé Ada sợ mẹ và bà, vào lớp một thì sợ cô giáo, còn sau đó thì không sợ ai hết. Điều đó không có nghĩa Ada là một cô bé dũng cảm, tuyệt nhiên không. Cô bé đã kêu thét lên khi thấy nhện và sâu, cô sợ những người đàn ông say rượu và bao giờ cũng tránh xa những cậu bé ngổ ngáo, cô sợ độ cao. Vấn đề là ở chỗ khác. Ada không bao giờ cảm thấy bất cứ một thế lực siêu nhiên nào, có thể nói, cô bé là một người vô thần bẩm sinh. Dường như đấy cũng không phải là điều lạ, đúng không?

Ada đã sống trọn tuổi thơ trong một quốc gia vô thần. Ada sinh năm 1945. Thời ấy làm gì có người tin vào Thượng đế, còn ai tin thì phải cố giấu. Nhưng Ada coi thường tất cả các loại lý tưởng, trong đó cả lý tưởng cộng sản, và cả những quy tắc đạo đức bình thường khác nữa.

Ở trường, khi nghe kể về những người anh hùng đã hiến dâng cuộc đời son trẻ của mình cho Tổ quốc hay về Aleksandr Matrosov, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Ada hiểu rằng nó sẽ không bao giờ làm chuyện đó. Nó sẽ không tự nguyện hi sinh cuộc đời duy nhất và không lập lại để cho một ai đó được sống. Nếu như bọn phát xít bắt được nó thì nó sẽ làm cho chúng mọi việc, miễn là được sống. Các bạn gái cho Ada là thô bạo, tham lam và không tốt. Còn nó thì cảm thấy tất cả mọi người xung quanh ranh mãnh và vờ vĩnh. Sống vì tương lai? Đau khổ vì những mục đích thường xuyên thay đổi của một nhân loại ngu ngốc ư?

Ada không thương người, cũng chẳng thương gì động vật. Nó chỉ tôn trọng những ai bắt được người khác phục tùng mình. Hồi còn bé tý nó đã từng theo dõi một cách thích thú cảnh bọn con trai đốt lửa để thiêu những con mèo con. Để kéo dài khoái cảm, chúng đặt từng con mèo lên đống lửa và thưởng thức cái chết của từng con. Sau này, đau khổ của kẻ khác không còn làm nó thích nữa, nó đã trở thành một người dửng dưng.

Một lần có một chiếc xe hơi đã cán phải một con chó hoang ở gần trường học. Nửa trước của con chó vẫn còn sống, trong cơn hấp hối nó giẫy dụa, hai chân cứ cào liên tục vào nền đường nhựa còn miệng thì rú lên một cách đau đớn. Đám học sinh đứa nào cũng sợ, không dám tới gần, thậm chí bà quét dọn cũng lúng túng không biết phải làm gì – con chó nằm giữa đường không ai đi lại được, cần mang bỏ nó vào thùng rác, nhưng con chó đáng thương vẫn còn sống… Phải đập, phải đập cho nó chết… mọi người đi ngang qua đều nói như thế. Mấy đứa con gái kêu lên ôi ối và lấy tay che mặt, một đứa thậm chí còn nôn thốc nôn tháo ngay ra đường. Thế mà Ada, lúc ấy mới học lớp 5, đã không chần chừ, cô giật lấy cái xẻng trong tay bà tạp vụ và đập hết sức mấy nhát liền vào đầu con chó. Nó làm thế không phải vì thương hại, đơn giản là nó muốn chỉ cho tất cả những kẻ nhu nhược kia một giải pháp duy nhất đúng - cầm lấy xẻng, chứ không phải là tỏ ra uỷ mị một cách ngu ngốc như thế.

Tiếng tăm của của Ada chẳng cải thiện được thêm chút nào, thậm chí một vài đứa con trai bây giờ đã biết rõ mặt nó và thầm thì - “Con bé này đã giết con chó đấy…”

Ada học cũng bình thường, sau khi tốt nghiệp phổ thông cô thi vào trường Trung cấp Sư phạm rồi lấy Tôlic, một ngưới lái xe Kamaz. Bố mẹ Tolic đã qua đời, đôi trẻ dọn về sống trong căn nhà cha mẹ Tolic để lại, như thời trước hay nói – nhà tư. Thật là thiên đường đối với đôi vợ chồng trẻ – ngôi nhà một tầng được chia thành bốn căn hộ có cửa ra vào riêng, mỗi nhà đều có một vườn rau riêng. Nhưng rồi cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Sau khi sinh con đầu lòng, anh chồng bắt đầu uống rượu, đến đứa thứ hai thì thành nghiện nặng. Tolic không thể nào hiểu nổi, tại sao Ada lại làm anh bực mình đến như thế. Mỗi lần về tới nhà, anh lại muốn tránh cho xa

Xét một cách toàn diện, Ada là một người vợ tốt - biết may, biết đan, nấu ăn ngon, nhà luôn sạch sẽ, gọn gàng. Và là một người đàn bà hấp dẫn… Mình bị làm sao thế nhỉ? Nhìn Ađulia quán xuyến gia đình, Tolic cứ co rúm người lại. Lòng anh bức bối không yên, chỉ muốn uống nữa, mặc kệ mọi sự… Nhưng sau năm năm chung sống Ada bắt đầu suy nghĩ. Thằng chồng khốn kiếp không mang tiền về nhà nữa, không biết nó đang lê lết ở đâu, với những thằng cũng bét nhè như vậy. Ada làm việc suốt ngày trong vườn trẻ, đóng cả vai cô giáo, cô bảo mẫu và lao công, nhưng được cái là hai đứa con lúc nào cũng ở bên cạnh. Cô cần một người chồng bình thường, một người chồng khác, nhưng li dị thì phải chia đôi căn hộ và chia đôi số tài sản chắt bóp bao nhiêu năm mới được. Hơn nữa, cô đã quen với mảnh vườn, miếng đất – cũng là một khoản thu nhập kha khá. Ada đã nuôi mấy con gà và vài đõ ong, cô còn định mua một con dê cái nữa.

Hàng xóm láng giềng không ưa Ada, họ đã đưa đơn kiện cô tới khắp các cơ quan quản lý nhà ở. Nhưng chẳng ai giải quyết – hai đứa con thơ với một ông chồng nghiện ngập đã làm mủi lòng cán bộ các ban quản lí nhà ở.

Ong của Ada thường đốt bọn trẻ con hàng xóm, gà thì cục tác ầm lên mỗi buổi sáng, làm cho bà lão tám mươi không ngủ được. Gác xép chung thì Ada khoá lại và cất đủ thứ bà dằn trên đó. Mặc dù trước đây chẳng ai giành cái gác xép này, nhưng mọi người đều cảm thấy ấm ức. Ngoài ra, bên cạnh ngôi nhà còn có một cái sân nhỏ, cũng là của chung, ở đấy có mấy cây táo, do bố Tolic trồng. Láng giềng đã quen phơi quần áo trên cái sân này, mấy cây táo được dùng làm cột chăng dây. Ada nói với họ rằng không được làm như thế vì mấy cây táo là tài sản của gia đình cô. Còn mấy người láng giềng thì bảo rằng táo không có quả, mà chỗ phơi thì không có. Thế là Ada đợi đến lúc có người đem quần áo vừa giặt xong ra phơi và cắt dây cho biết tay. Những chiếc ga trải giường trắng tinh rơi xuống đất bẩn, một bà láng giềng cầm cào lao ra định phang cho Ada mấy nhát. Nhưng Ada cầm rìu bước ra…

Có một lần Ada tức giận nói với mẹ và bà: “Sao cái thằng khốn nạn ấy không chết đi cho rồi! Chả nhẽ lại giết nó…”. Câu chuyện thực ra là thế này, đêm hôm ấy Tolic tìm mọi cách để được gần vợ, hắn làm bọn trẻ sợ và vô tình làm vỡ cái vô tuyến. Mẹ và bà nhìn nhau. Li dị đi - Mẹ ngập ngừng đưa ra lời khuyên. Nhưng bà đã chớp thời cơ và bảo với cô cháu gái rằng ông cô cũng đã chết bất đắc kì tử. Ông là đồ súc sinh dâm đãng. Là một trong những đảng viên vô lại, trước mặt lãnh đạo thì uốn gối khom lưng, nhưng đối với thuộc cấp thì lỗ mãng, còn người nhà thì chẳng coi ai ra gì. Sau khi được cử làm chủ tịch xã thì ông trở thành một kẻ càn rỡ, đem cả gái điếm về nhà. Có khi còn mang đàn bà về phòng làm việc rồi đóng cửa lại, bảo là cần chuẩn bị báo cáo quan trọng. Bà không dám phàn nàn chồng với đảng bộ, con đười ươi cao hai mét này có thể nghiến bà thành bột. Bà bỏ thuốc chuột vào món súp nấm. Người ta không điều tra gì cả, làm gì có ai nghi bà? Còn bà thì vừa khóc vừa kể cho các bác sĩ rằng ông hái nấm độc trong rừng, tưởng là nấm ăn được, không đợi bà về, tự nấu súp và ăn. Người ta đã chôn ông rất long trọng và trả trợ cấp cho gia đình…

Bây giờ thì cần thận trọng hơn, người ta có thể tiến hành khám nghiệm, mọi người đều biết chồng hay gây gổ với Ada. Bà phác thảo kế hoạch hành động – cho uống thuốc chuột rồi ném xác xuống một cái hẻm núi hoang vắng nào đó, cho chắc. Bây giờ đang mùa thu, rất đúng lúc. Ngay cả nếu mùa xuân người ta phát hiện được, thì xác lúc đó sẽ giống như người uống rựơu say rồi bị chết cóng mà thôi. Ai cần khám nghiệm cái tử thi đã thối rữa? Mà khám thì cũng làm sao chứng minh được? Bị đầu độc ư? Thì chỉ bọn nghiện rượu với nhau cứ còn ai vào đấy nữa… Vấn đề là - làm thế nào mang xác tới được hẻm núi mà không ai nhìn thấy? Nếu hàng xóm trông thấy thì coi như toi. Ada nhớ là trong kho có một chiếc xe cút kít, có thể đặt lên đó. Lấy giẻ rách, lá cây, mấy cái bình đựng nước để lên trên, thiếu gì thứ… mang thằng khốn đi giữa ban ngày ban mặt, ngay trước mắt mọi người. Từ lâu Ada chỉ gọi chồng là thằng khốn, chứ không dùng tên nữa. Mẹ sẽ đi bên cạnh, để trợ lực. Họ quyết định như thế…

Ada nướng một cái bánh táo thật ngon. Để nguỵ trang, cô cắt đi vài miếng – làm như có người đã ăn, rồi đặt lên bàn, ngay cạnh quả dưa hấu đỏ lựng mà bọn trẻ con ăn chưa hết, còn bỏ lại. Ada đưa hai con sang ngủ với bà và mẹ, rồi cô bật cái vô tuyến, lúc này, sau khi bị rơi chỉ còn nghe được tiếng nói và ngồi đợi chồng. Nếu mọi chuyện diễn ra xuôn xẻ thì sáng mai cô sẽ gọi điện cho mẹ và họ sẽ ra tay. Mãi Tolic vẫn chưa về. Con chó Đrugiốc, vẫn bị Ada xích ngoài sân, uể oải tru lên vài tiếng. Chỉ có ông chủ, thỉnh thoảng mò về nhà, mở dây cho chó, và nó sung sướng chạy nhảy quanh vườn, phì cả nước bọt vào đồ chơi trẻ con, rúc mõm vào chuồng gà và nhe răng với bọn gà, giẫm nát các bụi lý gai và phúc bồn tử đen, bới tung cả gốc cải và cà rốt lên. Ada không yêu chó, cô sẵn sàng vất con Đrugiôc này từ lâu rồi, nhưng ở nhà riêng không có chó không được, thế nào cũng có đứa leo qua hàng rào. Con chó nhớ thằng khốn kiếp, tiếng kêu của nó mới não lòng làm sao… hay là nó cảm thấy hắn cũng chẳng còn được bao lâu nữa? Ada bắt đầu nghi - nhỡ hắn không về? Thường thì hắn hay về vào tối thứ bảy, giặt những bộ đồ hôi hám của mình, rồi ngủ tới bữa trưa hôm sau. Nhưng bao giờ thì hắn dẫn xác về? Khi thì nửa đêm, có hôm gần sáng…

Vừa nghe vô tuyến Ada vừa thiu thiu ngủ, rồi sau đó ngủ thiếp đi luôn. Bà không nghe thấy Tolic tháo xích cho con Đrugiốc ở ngoài sân, không nghe thấy tiếng tra chìa khoá vào ổ, mà tra khá lâu, không nghe thấy tiếng chó rú rít và tiếng móng của nó cào vào cánh cửa… Không nhìn thấy chồng, khắp người đầy bùn đất và nước dãi chó, mang cả đôi ủng bẩn thỉu vào thẳng trong bếp rồi ngấu nghiến ăn mấy miếng dưa còn lại. Không nhìn thấy con chó trung thành cứ quấn lấy chân chồng, nó được vào nơi cấm kị, sướng quá, tè ngay một bãi bên dưới gầm bàn… Không thấy Tôlic vừa ngoạm dưa hấu vừa cho con chó ăn bánh táo như thế nào…. Không thấy anh chồng bất thình lình tỉnh rượu khi nhìn thấy con chó sùi bọt mép và lăn lộn dưới nền nhà. Sáng hôm sau Ada nhìn thấy xác con chó co quắp dưới nền nhà. Cứt đái thối khắm thành vũng xung quanh, mắt lồi ra, trắng dã, hai hàm răng vẫn cắn chặt vào chân bàn. Thằng khốn nạn đã biến mất. Sau này mới biết là hắn đã mang tất cả giấy tờ và quần áo của mình đi. Ada không bao giờ gặp lại hắn nữa. Chắc là thằng khốn đã đi Sibiri, anh hắn làm kiểm lâm ở đấy…

Hai đứa con lớn dần. Khi đứa lớn lên mười còn đứa nhỏ vào lớp một thì Ada bỏ việc ở vườn trẻ để đi làm giám thị ở nhà tù giam giữ các nữ phạm nhân. Lương ở đấy cao hơn. Tù nhân vừa căm thù vừa sợ bà ta, đặc biệt họ không thích ánh mắt nặng nề khinh bỉ và hàm răng vẩu luôn cắn môi dưới của bà. Cuối cùng Ada cũng có tình nhân, đấy là trung tá Krotov. Họ chuẩn bị lấy nhau. Ada đã đặt may áo cưới, nhưng đã xảy ra một sự kiện không ai lường trước được. Sau thất bại của cuộc đảo chính 1991, Krotov cho một phát đạt vào trán.

Hai đứa con trai của Ada lớn lên đều ngoan, biết nghe lời mẹ. Thằng cả thích trò thể dục, còn thằng em thì làm thơ. Từ ngày nhập ngũ, thằng con cả không về nhà lần nào. Nó quyết định phục vụ trong quân đội suốt đời. Nó đóng quân đâu mãi ở vùng Udmurchia, hồi đầu có viết thư về, nhưng sau khi lấy vợ thì thôi luôn. Thằng sau lớn lên ốm yếu, gầy gò và có cái đầu khá to. Đau tim, viêm dạ dày, động kinh. Bị mộng du, rối loạn thần kinh, hai mắt hơi lé. Tên khốn kiếp, sản phẩm của hắn đấy… - mỗi khi đứng mua thuốc cho đứa con không may của mình Ada lại thở dài và lẩm bẩm như thế. Thằng út không bị gọi đi nghĩa vụ, nhưng mấy nhóm văn chương thơ phú thì lại cho nó là người khá. Nó làm việc ở xưởng in, thuê phòng sống với một cô nhà thơ nào đó, hầu như không về nhà bao giờ. Càng ngày Ada Ivanovna càng ít quan tâm tới hai đứa con trai hơn, thế mà hồi thơ ấu khó mà tìm được một người mẹ chu đáo và tận tuỵ như thế. Nghĩ cũng lạ - chẳng khác gì những loài động vật khác. Chỉ cần đàn con lớn lên là con mẹ quên ngay, mặc dù vừa mới trước đó nó từng liếm láp chúng suốt ngày. Đấy chính là đạo của tự nhiên. Chỉ có chúng ta, con người, trong chuyện này, mới quá mức…

Ada không lấy chồng nữa, nhưng sản nghiệp thì gia tăng – một đàn gà, mấy con ngỗng, hai con dê, bày thỏ, đàn lợn con. Càng ngày bà ta càng say mê gia súc, gia cầm, mảnh vườn nhỏ không còn chỗ đặt chân nữa. Năng lượng của bà như muốn tràn ra ngoài, đàn ông thì bà không còn tơ tưởng nữa, nhưng càng ngày bà càng suy nghĩ một cách nghiêm túc hơn đến ngôi nhà nhỏ ở nhà quê. Khi bà mẹ qua đời thì cũng là lúc Ada Ivanovna đi đến quyết định – bà bán căn hộ ở thành phố và chuyển đến sống ở một ngôi làng nhỏ hẻo lánh, nhỏ và đẹp như tranh, trên bờ một con sông lớn. Còn cậu con út với cô thi sĩ đang mang thai thì chuyển về ngôi nhà do bố nó để lại. Nhà ở quê thật quá rẻ mạt! Nhà và mảnh vườn rộng tới ba mẫu (có thể làm một cái vườn rộng cả mẫu tây) mà như cho. Ada dùng toàn bộ số tiến bán căn hộ vào việc sửa sang khu vườn. Bà mua năm con bò, sáu mươi con thỏ, mười con dê cái và một con dê đực, sửa lại mấy cái nhà kho ọp ẹp, dựng một cái chuồng gà hai tầng, chữa lại nhà tắm, sửa sang lại ngôi nhà, dựng hàng rào mới…

Quan hệ với chòm xóm ban đầu cũng bình thường, nhưng đã xấu đi một cách nhanh chóng. Ada Ivanovna đã quen với sự kiện là tính thẳng thắn của bà, việc bà không biết xu nịnh và không biết chiều lòng người khác không giúp cải thiện quan hệ với hàng xóm và quan hệ với mọi người nói chung. Nhưng Ada không bao giờ cảm thấy cô đơn, nhất là bây giờ, khi bà đã có một điền trang lớn như vậy. Thêm nữa, bà còn có một người bạn trung thành, lạ là ở chỗ đấy lại là một con chó đực. Mặc dù Ada không thích chó, nhưng đây là một con chó đặc biệt. Sharl là con chó hàng xóm, ban đầu được gọi là Sarik. Cả làng thương hại nó và ai cũng cho nó ăn, nhưng nó chọn Ada.

Chuyện như thế này. Chủ của Sarik, là cặp vợ chồng Gulkin, không có con, chuyên sống bằng nghề ăn trộm. Họ chẳng tha thứ gì - quần áo cũ cùng với giây phơi, bình thuỷ tinh, sô rỉ. Những đồ có giá một chút là dân làng phải đem cất trong nhà, nếu ai quên cái cào hay cái xẻng ngoài vườn, thì như người ta nói: đời là thế… biết làm sao được. Không hiểu họ mang bán những thứ vứt đi ấy đi đâu. Ban ngày hai vợ chống Gulkin uống rượu cuốc lủi, chiều thì ngủ, tối đến mới đi một vòng. Khi bị mất cái chăn bông, Ada đã hành động một cách đơn giản: mua bẫy và đặt dọc hàng rào. Chẳng cần đợi lâu – bà già Gulkina bị mắc bẫy. Việc này xảy ra vào mùa đông, đúng đêm Giáng sinh. Gulkina leo qua được hàng rào, nhưng đúng lúc đứng lên thì tay lại thò vào bẫy. Bà ta rú lên vì đau đớn, tất cả chó trong làng cùng rú lên theo. Ông chồng kêu to, gọi bà chủ, nhưng mãi sáng hôm sau Ada mới bước ra vườn. Hàng xóm đưa bà lão Gulkina đi bệnh viện, lúc ấy bà ta có biết gì nữa đâu, một số chỗ đã bị hoại tử vì lạnh quá. Mặc dù các bác sĩ đã rất cố gắng, nhưng bàn tay vẫn bị cắt bỏ. Từ đó vợ chồng Gulkin uống rượu triền miên và hầu như không còn lang thang trong vườn người khác nữa. Ada Invanovna bị dân làng lên án.

Sarik, tức là con chó của gia đình Gulkin, dĩ nhiên là khổ rồi, trước đây họ hầu như cũng chẳng cho nó ăn gì, bây giờ thì hoàn toàn không. Có gì mà cho. Sarik là một con chó thuần chủng, đẹp. Bộ lông bẩn lem luốc và cái thân gầy còm ốm yếu không làm mất đi cái vẻ trí thức bẩm sinh của nó. Cái tướng đi bình tĩnh, cái mõm tao nhã thông minh, tính tình hiền lành. Bọn nhà Gulkin lấy ở đâu ra thế nhỉ? Chắc là ăn cắp được. Nó gây được cảm tình với tất cả mọi người, ai cũng yêu nó. Cuộc sống khắc nghiệt đã không làm nó trở nên dữ tợn, ngược lại - tới cổng nhà ai là nó cũng ho một hai lần, rồi đứng đợi cho đến khi chủ nhà nhìn thấy và mời vào. Nó ăn tất cả những gì người ta cho – rau củ sống, vỏ khoai tây, bánh mì mốc, táo thối,… Ăn một cách điềm tĩnh, đàng hoàng, như trong một nhà hàng sang trọng dành riêng cho chó vậy. Sarik không tỏ thái độ dù được người ta cho miếng thịt hay miếng dưa chuột muối, hay ít nhất nó đã làm ra vẻ như thế. Nó thưởng thức món ăn mà người ta đưa cho, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn chủ nhà với ánh mắt đầy lòng biết ơn.

Ban đêm Sarik ngủ trong chuồng chó ở nhà ông bà Gulkin, còn ban ngày thì đi chơi quanh làng. Những bà già cô đơn kể cho nó nghe những câu chuyện của mình, và nó nghe một cách chăm chú, tai dỏng lên, làm như là hiểu hết vậy. Khỏi phái nói, ai cũng sẵn sàng đón nó về nhà, đơn giản chỉ là vì tôn trọng trí thông minh chó của nó. Thế rồi mọi người đều phải ngạc nhiên khi thấy con Sarik kỳ diệu này bỏ chủ cũ để đến sống với Ada Ivanovna. Để khẳng định rằng quyết định của nó là nghiêm túc, con Sarik còn kéo vào sân nhà bà Ada cái giẻ mà nó vẫn nằm. Ban đầu Ada định đóng cho Sarik một cái chuồng mới, như sau khi suy nghĩ lại bà ta quyết định cho nó ngủ trong cái chái nhà gỗ đã xiêu vẹo mà bà đã định rỡ đi.

Ada và Sharl trở thành đôi bạn không rời nhau nửa bước. Thậm chí Sharl còn ăn cắp gà và ngỗng hàng xóm cho bà. Nó trở thành tên ăn cắp, y như chủ cũ. Chắc nó cảm thấy Ada Ivanovna vui mừng trước mọi mối lợi… Thấy con gà mái nào ngủ gật là nó vồ, cắn đứt cổ rồi bỏ chạy. Chủ nó thịt gà, nấu súp. Ban đầu hàng xóm làng giềng còn đến phàn nàn, nhưng Ada chỉ nhún vai – làm sao tôi biết đấy là gà của các vị? Con nào chả giống con nào… Sharl – Sarik bắt đầu bị người ta đuổi ra khỏi vườn. Chỉ cần trông thấy nó là người ta đã lấy đá ném rồi, có lần mấy người đàn ông còn định cho nó vài gậy nữa, nhưng con chó khôn lắm, chạy thoát. Một lần Sharl lôi về một chú gà trống – đây là một con gà giống, vẫn còn sống. Bà hàng xóm của Ada hét đến lạc cả giọng. Ada trả lại con gà và yêu cầu Sharl thôi không ăn cắp nữa, tất nhiên bà đánh giá cao tấm lòng của nó… nhưng họ đâu có thiếu thốn gì. Sharl hiểu hết và thôi hẳn.

Oleg, đứa cháu trai sáu tuổi của Ada, rất mê Sharl. Cậu nói: con về làng thăm Sharl và bà! Anh con trai – nhà thơ và cô vợ - cũng là nhà thơ, đưa con trai về làng nghỉ hè, để thở không khí trong lành và uống sữa dê tươi. Ada không phản đối, bà yêu con trẻ. Bà thích tiếng phát âm bập bẹ, dễ thương, thích những câu nói buồn cười, và cái chính là, sự bất lực và phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn của chúng. Thật dễ chịu khi biết rằng trên đời này còn có những sinh vật không thể sống thiếu mình, chính vì vậy Ada quý cả lũ gia cầm. Oleg trông khoẻ mạnh, và cho dù trong lòng Ada khinh bỉ cô con dâu – cái con bé mặt ngựa lúc nào cũng tỏ vẻ thông thái rởm - bà vẫn biết ơn cô ta theo kiểu của mình. Quả thật lạ - người thì da bọc xương, mà sinh được đứa bé khoẻ mạnh, thắng được gien của thằng khốn nạn kia. Ada chẳng bao giờ nghĩ rằng thằng con út của bà lại có thể đẻ được một cái gì ra hồn.

Oleg là cậu bé tốt bụng, có lần nó bảo: - “Bà ơi, bây giờ cháu lớn rồi, cháu sẽ giúp bà!”. Cậu chăm chỉ đào một luống đất riêng và gieo các loại hạt khác nhau xuống đấy, cậu học cách buộc bụi cà chua, bắt bọn bọ cam bỏ vào lọ dầu hoả. Ada Ivanova cho rằng sáu tuổi là lúc trở thành đàn ông rồi và phải nhìn cuộc đời như nó đang là. Vì vậy, bà không dấu cháu trai sự khắc nghiệt bất đắc dĩ, luôn đồng hành với đời sống thôn dã.

Lần đầu, Ada chặt đứt đầu con gà mái già, không đẻ trứng được nữa, rồi bà nhổ lông khi nó đang còn giãy dụa. Cháu giúp bà nhé? Thằng cháu trai khóc òa lên và bỏ chạy. Bữa trưa cậu không chịu ăn thịt gà, Ada không ép. Nhưng khi bà đưa cho nó món thịt thỏ rán thì nó ăn ngon lành. Sau vài ngày Ada hỏi cháu có muốn ăn món thịt rán không, nó bảo có. Ada đưa cháu ra cái sân sau nhà và chỉ cho nó cách giết thỏ mà vẫn giữ được bộ da. Oleg van lạy bà đừng giết con thỏ lông xù, nhưng bà chỉ cười – “Nếu không giết, cháu và bà sẽ chết đói…” Oleg run lẩy bẩy cả người và nuốt nước mắt gấp gáp, còn bà nội thì khéo léo lột da con thỏ. Không sao cả, Ada nghĩ, cứ để nó quen dần…

Nhưng đứa cháu trai trở bẳn tính và cáu kỉnh, nó thu mình lại và không ăn thịt nữa. “Thế cháu có thích giò không? Nó cũng được làm từ con bò Miska, cháu nhớ không, con bò nhỏ màu râu ngô năm ngoái ấy? Bà đã cắt.. cắt.. hồi mùa thu năm ngoái đấy … Cháu nghĩ là thịt mọc trên cây à? Thế cháu nhớ mình ăn thịt nướng hôm bố mẹ cháu chở cháu tới không? Đấy là thịt con dê bị mắc vào hàng rào dây thép gai, đành phải mổ. Cháu là đàn ông mà, phải quen dần đi…” Nhưng đứa cháu trai không muốn nói chuyện với bà nội nữa, nó chỉ phàn nàn với Sharl về người bà ác độc, nói to để bà nghe thấy. Cứng đầu đấy… - Ada tỏ vẻ ngạc nhiên.

Thế rồi con mèo Murka ban đêm trở dạ, sinh được mười chú mèo con. Ada, như mọi khi, dìm mèo con trong xô nước rồi đổ vào hố xí. Thật không may là một lúc sau Oleg lại đi ra nhà xí, vừa cởi được quần thì cu cậu phát hiện mấy cái xác mèo con nằm giữa đống phân tro. Cu cậu vừa hét toáng lên vừa lao ra khỏi nhà xí, nó sợ quá, ỉa cả ra quần. Không phải Ada Invanova định thử cháu, chỉ vì bà không nghĩ rằng Oleg đã sử dụng hố xí của người lớn nên mới ra nông nỗi thế. Trước đây bà thường cho nó ngồi bô… Hơn nữa, đêm hôm trước bà đã mơ thấy con Sharl nói với bà bằng tiếng người, nó bảo: “Ada, đừng làm điều dại dột nữa, hãy để thằng bé được yên, không có nó sẽ thành người thần kinh đấy. Không phải ai cũng có thần kinh vững như bà đâu”. Ada đã hứa. Cho nên khi thấy thằng béo lao tới, giơ nắm đấm lên thì bà không hiểu đã xảy ra chuyện gì.

Đến bữa trưa thì không thấy Oleg đâu. Ada và Sharl tìm khắp nơi, vào từng nhà .. Không có kết quả! Ada thậm chí đã bật khóc - muốn tốt cho cháu, ai ngờ không giữ được cháu. Nhưng rồi mọi chuyện đều ổn. Hoá ra là Oleg định về thành phố với bố mẹ. Nó đi theo đường cái và khi sắp đến ngôi làng gần đó thì có một chú công an khu vực trông thấy, nó được chú đưa về đồn. Thằng bé vẫn nhớ họ của mình và buổi chiều thì người ta mang nó trả lại cho bà nội. Từ hôm đó Oleg có thái độ rất hỗn láo, Ada Ivanovna phải đánh điện cho con đến đón ngay…

Mẹ thằng bé đến đón con và khi biết nguyên do những cơn điên khùng của nó thì chửi mẹ chồng hết nước hết cái. Cô con dâu còn tuyên bố thêm rằng không bao giờ giao con cho bà ta nữa. Ada cũng không vừa: con đê tiện gầy còm, nhà thơ rởm chân khoèo này thì dạy được gì cho thằng bé? Gieo vần mấy thứ nhảm nhí ư? Bọn mày sống bằng linh hồn thánh thiện ư? Suốt ngày nhai mấy cái giò thối ở cửa hàng mà còn làm bộ… rồi mày sẽ lấy làm tiếc!

Chỉ còn lại bà và Sharl, nhưng cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Mùa thu thì cắt cỏ, hái nấm, sấy khô dành cho mùa đông. Sharl đặc biệt nhạy cảm với mùi nấm trắng, cho nên họ không hái các loại nấm khác. Mùa đông thì ngủ và đọc những tờ tạp chí cũ, mùa xuân trồng rau, mùa hè cũng không phải buồn, việc làm không bao giờ hết. Thỉnh thoảng Ada lại mơ thấy Sharl, lúc đó thì tha hồ nói chuyện. Trong mơ bà thấy họ thường đi dạo trên bờ sông, Sharl bước bên cạnh, thẳng đứng, trên hai chân, y như người. Trong năm năm họ đã nói biết bao nhiêu là chuyện - cả những năm còn đi học, cả cuộc sống gia đình bất hạnh, cả việc thằng khốn kiếp chạy thoát, không cần phải giết, cả đứa con lớn đã hầu như không còn nhớ đến nữa, cả đứa con nhỏ với con vợ ngốc nghếch, rồi đến những người hàng xóm và công cuộc cải tổ bất thành và ông Yeltsin nghiện ngập. Họ còn thảo luận cả những vấn đề triết học, thậm chí chúa Trời nữa… mà Sharl bao giờ cũng là người khởi xướng, Ada không quan tâm tới những vấn đề đó, bà tiếp chuyện chỉ vì lịch sự mà thôi.

Một lần trên đường đi dạo về, lần này thức, chứ không phải mơ nữa, Ada và Sharl gặp một vị linh mục trẻ. Vừa mới thoáng thấy Ada vị linh mục đã kêu lên: “Ma quỉ!” rồi làm dấu thánh giá ba lần và đi rất nhanh, như chạy, vừa đi vừa lầm bầm đọc kinh. Ada tỏ ra bối rối. Việc gì vậy? Ông ta bị điên à? Sharl cũng buồn – nó chạy thẳng về nhà, đầu cúi gằm. Ở làng bên cạnh người ta mới dựng lại ngôi nhà thờ đổ, dân chúng bắt đầu đi lễ. Ada Ivanovna không đi lễ, bà cho rằng chỉ những người đầu óc lạc hậu mới theo đạo, nhưng Giáng sinh thì bao giờ bà cũng làm món ngỗng quay nhân táo, còn phục sinh thì vẽ lên những quả trứng và xếp chúng lên những chiếc bánh mì cao ngất. Nhưng bà làm thế chỉ vì muốn có sự đa dạng mà thôi.

Thế rồi trong một ngày xuân đầy nắng, vì tò mò, Ada quyết định ghé qua nhà thờ, thì cũng phải nắm được tình hình khu vực chứ. Nhưng đúng vào lúc bà bước qua ngưỡng cửa thì cái dàn giáo treo bên trên bị đứt. Chắc chắn là Ada đã bị đè nát bấy nếu như Sharl không kịp thời húc vào lưng bà chủ mà lúc đó đã đứng ngây ra như trời trồng. Ada lao như bay vào trong nhà thờ, nhưng mất thăng bằng và ngã, mặt đập xuống nền lát đá…

Nhưng những vết thâm tím chỉ là chuyện vặt, sau một tuần là khỏi ấy mà. Chỉ có Sharl là không nhảy ra kịp, nó bị dàn giáo đè lên hai chân sau, và bị liệt luôn từ đấy. Ada mang con chó vào trạm thú y khu vực, nhưng ở đấy người ta cũng chẳng giúp được gì, mà tiêm thuốc mê cho nó chết thì không đành. Dù sao bà cũng đã quen với nó rồi. Từ đó Sharl chỉ bò bằng hai chân trước, buộc lòng phải bỏ những cuộc đi dạo thường ngày. Ada Ivanovna chỉ sợ Sharl sẽ liệt hẳn và bà ta sẽ trở thành một người hoàn toàn cô độc…

Ada không hiểu tại sao những suy tư trăn trở về vụ tai nạn không những không lắng xuống, mà dường như còn phình to mãi ra… không để bà yên. Lại còn cái lão linh mục hâm hâm kia nữa… Sharl đã xô bà vào nhà thờ và như thế là đã cứu bà thoát chết trong gang tấc. Nhỡ đó là một tín hiệu? Có thể, nếu quả thật là có Thượng đế … bây giờ người ta tha hồ nói về chuyện đó, ngay cả tờ tạp chí “Sức khoẻ” còn đăng số tử vi… Mà lạy trời, nếu có Thượng đế thật thì mình cần phải làm gì chứ. Làm dấu thánh giá à… rồi theo một số điều răn nào đó, quả thật là bà không muốn bị thiêu ở dưới hoả ngục trong khi những người khác thì ăn đến béo trương béo nứt ở trên Thiên đường.

Ada Ivanovna nhớ là dưới tầng hầm, giữa đủ thứ rác rưởi do những người chủ cũ bỏ lại, có một cuốn Kinh thánh. Bà tìm được cuốn sách, giấy đã bị mủn vì ẩm, nhưng vẫn còn đọc được. Không hiểu từ đâu mà Ada biết rằng không cần đọc hết, phần đầu có những cái không đúng, quan trọng là Tân ước thôi. Phải khó khăn lắm Ada mới đọc hết được Tin lành theo Ma-thi-ơ, nhưng chỉ làm bà bực mình. Họ viết cho ai thế nhỉ? Cho các ông Thánh ư? Yêu kẻ thù, chúc phúc cho những kẻ đáng bị nguyền rủa, cho đến cái áo cuối cùng… dù có giả vờ làm kẻ ngoan đạo thế nào đi nữa thì cũng chẳng ai có thể làm được những chuyện như thế”.

“Chắc là, cần hướng tới cái đó…”, Sharl nghĩ (dĩ nhiên là trong mơ rồi). “Để làm gì? Tại sao tao lại phải tin vào những cuốn sách chẳng biết do ai viết ra như thế? Nếu thiên nhiên đã tạo ra tao như thế này rồi thì sao? Thây kệ tao, tao không thương ai, nhưng cũng chẳng cần ai giúp đỡ. Thây kệ tao, tao thà chết một mình chứ chẳng thèm cầu xin ai…”. “Sao bà lại nóng nảy thế? Dĩ nhiên là mỗi người một tính, nhưng hãy nhớ lại tên khốn nạn xem… may là lúc ấy bà đã không giết hắn, không gây ra tội…”. “Mặc mẹ nó! Giết, không giết, tao không hề bị lương tâm cắn rứt, bản tính tao là thế, hiểu chưa? Nhưng tao không giả vờ làm người tốt bụng…”. “Không, Ada, bà sai rồi, giết người là trọng tội, lại còn vì giành nhau căn hộ nữa”. “Ừ, tao không giết… mày nghĩ thế là đủ à? Tao nghi lắm… nếu đòi hỏi nhiều như thế thì chẳng có ai vào được Thiên đường đâu…”.

Không phải ngày nào cũng có những giấc mơ như thế, nhưng chúng làm Ada Ivanovna muốn phát điên lên được, buổi sáng bà còn quát con Sharl tội nghiệp, tuồng như nó đã dạy bà cách sống vậy. Nhưng có con sâu nào đó đã đục bên trong bà và lại còn những tin đồn chẳng lấy gì làm hay ho nữa.. Người ta bảo rằng ngày tận thế sắp tới rồi. Năm 2000 đang đến gần, con số này làm nhiều người lo lắng. Nhưng Ada Ivanovna không còn quan tâm đến siêu nhiên nữa: mặc kệ tất - Thượng đế đã tạo ra bà như thế này, thì Thượng đế phải tự chịu trách nhiệm, bà tự nhủ.

Nhưng Sharl lại làm bà lo lắng nhiều hơn, thời gian gần đây nó cứ bò theo bà suốt, và, cái chính là ỉa bất cứ chỗ nào nó muốn. Nó ỉa ra toàn nước, như đi tháo tỏng, kinh khủng nhất là khi nó ỉa trong nhà. Một ngày Ada phải lau mấy lần, cả trong bếp, trong hành lang, thậm chí trong phòng ngủ nữa. Sharl lại ăn rất nhiều, lúc nào nó cũng bị đói, vì nó không tiêu hoá được, phân vẫn còn “sống”. Tuy thế, Ada vẫn còn thương người bạn của mình, bà hiểu rằng chẳng còn phải đợi lâu nữa. Nhưng hè qua, thu lại mà Sharl thì cứ ỉa bậy hoài, nó không khoẻ ra nhưng cũng không yếu hơn. Lạ thật… - Ada nghĩ – nó còn kéo dài được bao lâu nữa nhỉ? Bà còn một ít thuốc chuột, nhưng nhớ lại hình ảnh con Đrugiốc sau khi chết, Ada hiểu rằng bà không nỡ để Sharl phải chịu cảnh đau đớn như vậy. “Đây thực sự là tội lỗi – nó đã cứu mình, còn mình thì cho nó thuốc chuột…Song thuốc ngủ thì được.”

Nhưng đem Sharl vào trung tâm là cả một vấn đề, cho nên bà vẫn đợi, cứ để mọi việc diễn ra một cách tự nhiên… Thế mà con chó dường như đã cảm nhận được ý định của bà chủ, trở nên không thể chịu đựng nổi – đòi ăn hoài, còn nếu không được thì rú lên một cách thảm thiết và nhìn chủ với đôi mắt trách móc, làm người ta phải nổi da gà. Tìm đâu ra thức ăn cho nó? Ada cho Sharl ăn tất cả mọi thứ, tất cả mọi thứ rác rưởi, còn nó thì bất cần, miễn là có ăn.

Một lần, vào đầu đầu tháng mười, Ada đi ngủ sớm vì hôm ấy bà mệt quá. Nhưng ngủ không yên, bà mơ thấy Sharl. Nó đứng trước mặt bà bằng hai chân sau, hai chân trước khoanh trước ngực. Sharl đã biến thành một con chó cao lớn, tới năm mét, có khi còn hơn. Đôi mắt nó sáng rực, dữ tợn, môi nở một nụ cười khinh bỉ. “Bà sẽ vào Địa ngục, vào vạc dầu, đó chính là chỗ của bà! Không phải đương nhiên mà tên bà như thế !” (Ada - từ có gốc từ từ “ad” – có nghĩa là địa ngục). Rồi nó phá lên cười, cái cười khinh bỉ của loài chó.

Ada tỉnh dậy giữa đêm khuya, mồ hôi toát ra, người run bắn, như lên cơn sốt, tim đập như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Con chó thối tha! Bà bật dậy khỏi giường, phải uống thuốc an thần ngay. Sáng ra sẽ mời nó thuốc độc … nhưng tại sao trong phòng lại sáng thế nhỉ? Ánh sáng đỏ rực lấp lánh chiếu qua cửa sổ vào phòng ngủ, Ada nhìn qua cửa sổ - quỷ thần ơi, chẳng lẽ trong làng có đám cháy? Cả bầu trời cháy đỏ rực. Ada lao ra sân, đâm cả đầu vào cổng… không, đây không phải là ánh lửa cháy. Ở bên kia sông có một cái gì đó màu đỏ cam, lớn lắm, đang bốc lên, chiếm nửa bầu trời, không, không phải là bốc lên… nó đang vừa phát ra những tiếng kêu rắc rắc vừa toả ra khắp các hướng, trùm lên bóng tối!

Hai đầu gối Ada run bắn lên. Hoá ra là nó, ngày tận thế đây… Lạy Chúa tôi! Hai chân bước lảo đảo, rồi bà ngã lên đám cỏ ướt, tay liên tục làm dấu. Chúa lòng lành, xin Chúa tha tội cho con! Trong giây phút kinh hoàng đó Ada đã nhớ lại tất cả và cầu xin tha thứ tất cả - tha thứ cho việc đã dùng que đụng vào những con mèo đang co quắp trong đống lửa, tha thứ cho cái niềm vui cay độc chỉ một mình bà biết, khi bà cầm xẻng đập chết con chó hoang, tha thứ cho tội ăn cắp đồ của các bạn gái, tha thứ cho tội đã lấy một trăm rub của bà của một cô bạn, tha thứ cho tội đã cướp lương hưu của ông già mù tàn tật, tha thứ cho việc đã để cho gà kêu làm bà già hàng xóm bị nhồi máu cơ tim, tha thứ cho kế hoạch giết thằng khốn nạn và cái chết thảm thương của con chó Đrugiốc, tha thứ cho cái ý định giết con Sharl trung thành hồi gần đây, tha thứ cho việc đã bắt những người đàn bà trong xưởng tù may đi may lại mười lần tầm ga trải giường, tha thứ cho việc đã không trả lại bà Tamara một chú lợn con, nói dối là nó bị chết khi bà này về nhà thăm con cái.. tha thứ cho tất cả những người đã bị bà lừa lọc và xúc phạm, tha thứ tất cả mọi người và mọi việc… cả những việc bà còn nhớ lẫn những việc bà đã quên…

“Này, sao lại ở đây? Sao lại rên rỉ thế? Bà đấy à, bà Ada? Bà sao thế, đau à?”

Ada không nhận ra ngay là người ta đang nói với bà, rằng vừa mới có một tâm hồn còn sống nữa xuất hiện ngay bên cạnh, rằng hiện bà vẫn còn sống! “Đấy… đấy…” – bà chỉ khẽ mấp máy môi, còn tay thì chỉ lên đám lửa trên trời. “À, đấy là… Mấy người làm phim ấy mà, bà làm sao thế? Bà không biết là người ta đang quay phim à? Ở bên kia sông cơ… việc của họ như thế. Thế mà bà sợ à?”

Ada trở về nhà, như người lên cơn mê. Chân bước loạng choạng, đầu óc trống rỗng… bà đụng cả vào hàng rào, mãi bà mới tìm được cổng… và quên cả đóng. Sharl đang ngủ yên lành trên ngưỡng cửa, Ada đứng lại, đôi mắt nặng trĩu của bà nhìn thấy cái cuốc tựa trên một cái cây gần đó. Bà ta đánh một cách điên cuồng nhưng rất có bài bản, đánh đến vụn ra. Những miếng thịt chó đầy máu me bay tung lên, làm bẩn cả bức tường vừa được quét vôi lại, từng đám lông chó bạc trắng lượn lờ trong không trung. Thậm chí đến lúc con Sharl chỉ còn như một đống nhầy nhầy không ra hình thù gì mà bà ta vẫn còn đánh, đáng cho đến khi cuốc đập cả xuống gạch mà bà ta vẫn chưa thôi.

 Phạm Nguyên Trường dịch

(theo Hội VHNT VN tại Liên bang Nga)

 

Bình luận
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa