Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23674238
Số người đang online:
111
V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
Sinh ngày 9 tháng hai (tức 29 tháng giêng theo lịch Nga cũ) năm 1783 tại điền trang Mishenskoye thuộc tỉnh Tula, Vasily vốn là con trai không chính thức của điền chủ Afanasy Bunin với một người hầu gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Họ Zhukovsky là của một quý tộc nghèo bạn gia đình Bunin, người theo yêu cầu của Bunin đã trở thành cha đỡ đầu, và sau đó là cha nuôi của cậu bé.

V.A.ZHUKOVSKY - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA

 

Sinh ngày 9 tháng hai (tức 29 tháng giêng theo lịch Nga cũ) năm 1783 tại điền trang Mishenskoye thuộc tỉnh Tula, Vasily vốn là con trai không chính thức của điền chủ Afanasy Bunin với một người hầu gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Họ Zhukovsky là của một quý tộc nghèo bạn gia đình Bunin, người theo yêu cầu của Bunin đã trở thành cha đỡ đầu, và sau đó là cha nuôi của cậu bé. Ngay trước khi nhà thơ tương lai ra đời, gia đình Bunin gặp họa lớn: 6 trong 11 đứa con của họ bị chết, trong đó có cậu con trai duy nhất đang là sinh viên đại học. Bà chủ điền trang quá đau khổ, đã nhận nuôi dưỡng đứa trẻ mới sinh, và dạy dỗ nó như con ruột. Cậu bé Zhukovsky nhanh chóng được cả gia đình yêu quý, nhưng do xuất thân như vậy nên không được thừa kế tài sản và tước hiệu quý tộc của gia đình Bunin. Để trở thành quý tộc, từ bé cậu đã được ghi tên vào trung đoàn kỵ binh Astrakhal với chức danh hạ sĩ quan, và phải đi học. Những năm đầu đời, Zhukovsky không có duyên với việc học, 11 tuổi bị đuổi khỏi trường trung học của tỉnh Tula do “không có khả năng”. Cậu được gửi về Tula ở với gia đình mẹ đỡ đầu (là một trong các con gái của nhà Bunin, tức các chị cùng cha khác mẹ của nhà thơ tương lai), nơi cậu sống giữa một thế giới toàn các cô bé gái, điều này có ảnh hưởng lớn đến tính cách của nhà thơ sau này. Gia đình mẹ đỡ đầu là trung tâm của giới trí thức thành phố Tula, trong đó có nhiều người quan tâm, ham thích văn chương, nghệ thuật.

Khả năng và niềm đam mê văn chương của Zhukovsky thực sự bắt đầu trong những năm học ở trường trung học nội trú thuộc Đại học Tổng hợp Moskva, nơi có những hoạt động văn chương sôi nổi. Nhà thơ xuất hiện trước công chúng độc giả lần đầu tiên năm 14 tuổi (khi mới vào trường nội trú), với tác phẩm “Những suy tưởng bên lăng mộ”, và sau đó trong bốn năm học công bố một loạt các bài thơ như “Sáng tháng năm”, “Phẩm hạnh”, “Thế giới”, “Gửi con người”, v.v… Thơ thời học sinh của Zhukovsky mang đậm nét u sầu trước cuộc đời phù du, chóng tàn, ngập tràn nước mắt và khổ đau.

  Hạnh phúc cả trăm lần

 

  Là kẻ nào đến được

 

  Bến bờ kia bình an

 

  Và vĩnh hằng yên giấc

 

Đó là lời của chú bé nhà thơ 14 tuổi trong bài “Sáng tháng năm”. Tâm trạng u sầu đó một phần do tác động của không khí, của thị hiếu văn chương thời đại. Nhà thơ bước vào văn chương khi “Cô Liza đáng thương” của Karamzin và những tác phẩm mô phỏng nó đang khuấy động độc giả Nga. Ý thức về thân phận mình, thân phận của mẹ ruột mình – dẫu được yêu thương, nhưng vẫn bị phân biệt về đẳng cấp – khiến nhà thơ càng gần gũi với chủ nghĩa tình cảm của Karamzin vốn coi trọng việc phản ánh “nước mắt và nỗi đau” của những con người bình dân.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Zhukovsky bắt đầu sự nghiệp quân ngũ, nhưng nhanh chóng từ bỏ nó. Chàng trai 18 tuổi rời Moskva về sống ở quê nhà Menshenskoye, mang theo cả một thư viện sách, trong đó có rất nhiều sách văn học cổ điển và đương đại châu Âu. Tác phẩm “Nghĩa trang làng quê” (1802) là một trong những kết quả của việc tiếp nhận nguồn sách vở phương Tây đó. Đó là một bản dịch, hay đúng hơn là một tác phẩm cải biên sáng tác nổi tiếng của nhà thơ Anh Thomas Gray (1716 – 1771) “Elegy Written on a Country Churchyard” (Năm 1839, sau chuyến sang Anh, đến thăm nghĩa trang nơi Gray viết bài “Elegy…”, Zhukovsky lại dịch lần nữa tác phẩm này). Cảm tác nơi nghĩa trang làng quê đã trở thành một khuynh hướng có tên gọi là “thơ nghĩa trang” (graveyard poetry/kladbishchenskaya poezia) trong thơ châu Âu và thơ Nga nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Ở Nga, “thơ nghĩa trang” mang những yếu tố tiêu biểu của phong cách lãng mạn quý tộc, đúng hơn là của phong cách tình cảm chủ nghĩa hay tiền lãng mạn. Đó là loại thơ ca hướng về thiên nhiên, về đời sống thôn quê, thấm đượm cảm xúc u sầu, bức tranh phong cảnh hữu tình chuyển dần thành những môtíp tiêu biểu như đêm đen, chiều tối, sương mù, khu rừng bí ẩn, đống tro than, cảnh điêu tàn, và cuối cùng là nghĩa trang với những ngôi mộ chí – một cách thể hiện thái độ, phản ứng của các nhà thơ quý tộc trước sự suy tàn của giai cấp mình khi bước vào thời đại của chủ nghĩa tư bản.

[1]

 

Với “Nghĩa trang làng quê” và những tác phẩm mang tinh thần của chủ nghĩa tình cảm của Zhukovsky, lần đầu tiên trong thơ ca Nga xuất hiện hình tượng người ca sĩ u sầu, siêu thoát khỏi thế giới hiện thực, trần thế. Nhà thơ từng viết về giai đoạn đầu sáng tác của mình: “… vào thời gian đó đối với tôi, cuộc sống và thơ ca là một” (“Tôi từng gặp một nàng thơ khác…”, 1824). Thơ ca là thế giới thần bí mà nhà thơ ẩn náu để trốn tránh hiện thực. Nhà phê bình Belinsky đã nhận xét rằng: “trước Zhukovsky chưa có ai tin rằng cuộc sống con người lại gắn bó chặt chẽ đến như thế với thơ ca, và những tác phẩm của nhà thơ có thể cũng là bản tiểu sử đúng nhất về anh ta[2]

Trong đời mình, ngoài câu chuyện về nguồn gốc xuất thân, Zhukovsky còn mang nặng một mối tình sầu: trở về điền trang Mishenskoye sau khi tốt nghiệp trung học, nhà thơ trẻ đem lòng yêu cô cháu gái Maria Protasova (con gái người chị cùng cha khác mẹ của nhà thơ); mối tình rất sâu nặng, Zhukovsky đã cầu hôn, nhưng do mối quan hệ gần gũi như vậy nên đã bị gia đình quyết liệt phản đối, khước từ; rồi cô gái đi lấy chồng, sau đó chết – bi kịch tình yêu đó càng làm nhuốm màu u sầu, thất vọng, trốn tránh trong thơ Zhukovsky. Giống như nàng Beatrice của Dante, người tình Maria của Zhukovsky đã được vĩnh cửu hóa trong thơ ông. Nàng trở thành nhân vật cho các “Bài ca” của nhà thơ (“Khi tôi được yêu”, “Hỡi bạn, thiên thần hộ mệnh của tôi”, “Hồi tưởng”, “An ủi trong nước mắt”, “19 tháng ba năm 1823”)… Trong thơ Zhukovsky, với âm hưởng của niềm hi vọng lẫn nỗi đau mất mát, bắt đầu xuất hiện môtíp xung đối, nhưng đôi khi lại đan quyện nhau, giữa “thế giới này” hiện hữu nhưng u buồn với “thế giới bên kia” vô hình nhưng hoàn hảo. Tính chất huyền bí của sự tồn tại giữa hai thế giới hữu hình và vô hình, sự tập trung cao độ vào những cảm xúc tâm hồn – đó là những bạn đồng hành quan trọng của chủ nghĩa lãng mạn, và vì thế mà Zhukovsky được xem là người mở đầu cho nền thơ mới của Nga.

Là người tiếp thu ảnh hưởng chủ nghĩa tình cảm của Karamzin, Zhukovsky vẫn rất gắn bó với truyền thống thơ ca cổ điển thế kỷ XVIII, đặc biệt là với truyền thống tụng ca từ Lomonosov đến Derzhavin, nhưng đồng thời đưa vào thể loại này những nét mới mẻ. Năm 1812, nhân sự kiện chiến tranh vệ quốc chống Napoléon, Zhukovsky viết bản tụng ca “Ca nhân trong đạo quân Nga”, với hơn bảy trăm dòng thơ. Tụng ca của Zhukovsky không còn mang âm hưởng hùng tráng như của Lomonosov hay Derzhavin, mặc dù vẫn sử dụng những ẩn dụ, những biểu tượng của thơ thế kỷ XVIII. Đi cùng hình tượng ca nhân không phải là thanh kiếm và mũi tên, mà cây đàn hạc hay đàn lia, không phải là tinh thần quả cảm, anh hùng, mà là sự chân thành, giản dị. Chủ đề chiến tranh vệ quốc, tinh thần yêu nước còn tiếp tục được Zhukovsky đề cập trong bài tụng ca “Kỷ niệm Borodino” viết năm 1839.

Giống như Derzhavin, Zhukovsky là một nhà thơ cung đình. Chính bài thơ “Ca nhân trong đạo quân Nga” đã khiến Nga hoàng Alexandr I chú ý đến nhà thơ, và mời vào triều. Zhukovsky phục vụ dưới thời của hai vị Nga hoàng (Alexandr I và Nikolai I), đặc biệt từ 1826 đến 1839 là thầy dạy cho hoàng thái tử (hoàng đế Alexandr II tương lai). Công việc này đã khiến nhiều bạn bè của nhà thơ không hài lòng, thậm chí có cả thơ trào phúng chế giễu ông. Tuy nhiên, cũng nhờ sự gần gũi với triều đình mà Zhukovsky đã giúp đỡ được nhiều người: ông đã nhiều lần che chở cho “mặt trời thi ca” A.S. Pushkin khỏi đám mây đen của những âm mưu hãm hại trong giới triều thần; ông là người giúp cho nhà dân chủ cách mạng A.I.Herzen thoát khỏi lưu đày, giúp nhà thơ E.A.Baratynsky thoát quân dịch (chế độ quân dịch thời Nga hoàng, như đã nói ở những phần trước, hết sức hà khắc, thời hạn kéo dài gần như suốt đời); ông cũng góp phần giúp nhà thơ lớn của Ukraina Taras Shepchenko thoát khỏi thân phận nông nô (bởi chính ông cũng từng giải phóng cho nông nô của mình)… Nhà thơ dùng uy tín và chức vụ để bảo lãnh cho những người bạn văn chương có tư tưởng tự do của mình, đến nỗi có lần chính Nga hoàng phải cằn nhằn: “Vậy thì ai bảo lãnh cho nhà ngươi?”[3]. Thơ cung đình của Zhukovsky, mặc dù có thể không trực tiếp được gợi hứng bởi những người bảo trợ nhà thơ ở triều đình, nhưng cũng vẫn gắn với những mối quan hệ của nhà thơ với họ, viết về họ, và một số bài trong đó là những kiệt tác. Chẳng hạn ông có bài “Bông hoa” (1819), được viết theo gợi ý của công nương Alexandra Fedorovna[4], người đã tìm được bông hoa (Landler-Gras) mà ở Đức được coi là tượng trưng cho sự bảo đảm tình bạn bất tử. Trong bài thơ, Zhukovsky  khéo léo mô tả hình tượng công nương qua những hồi ức của nàng về những ngày hạnh phúc thời ấu thơ bên vua cha nước Phổ và những dự cảm ngọt ngào về một tương lai xán lạn ở tổ ấm mới của nàng là hoàng gia Nga. Đây là một trong những bài thơ du dương giàu nhạc tính nhất của Zhukovsky.

Tuy nhiên, thể loại tụng ca nơi Zhukovsky không phát triển thêm nhiều, cũng như không đáp ứng được nhu cầu nghệ thuật của nhà thơ.

Đem lại vinh quang cho Zhukovsky là những bài thơ ballad. Ballad không phải là thể thơ dân tộc, mà du nhập từ phương Tây vào Nga từ thế kỷ XVIII, nhưng thực sự trở thành thể phổ biến chỉ từ đầu thế kỷ XIX với Zhukovsky. Thuật ngữ “ballad” bắt nguồn từ “balada” trong phương ngữ vùng Provence, có nghĩa là “bài ca có kèm nhảy múa”. Ballad phát triển từ sự kết hợp giữa các điệu múa (ballet) của miền bắc nước Pháp với các bài ca (canso) của những nghệ sĩ troubadour vùng Provence, trở thành một thể loại độc lập trong thơ Pháp từ các thế kỷ XIV-XV, và phát triển ra ngoài biên giới Pháp. Trong thơ ca Anh và Scotland thế kỷ XIV-XVI, ballad là thể thơ tự sự dân gian, với những câu chuyện lịch sử về những các cuộc chiến tranh, về người anh hùng huyền thoại Robin Hood (tương tự các romance của người Tây Ban Nha, hay các bylina của người Nga; ở Đức, các bài ca dân gian tương tự về sau cũng được gọi là ballad). Bao trùm các ballad dân gian châu Âu là không khí huyền thoại, đặc biệt là môtíp hồn ma – thể hiện niềm tin vào s tồn tại của một thế gii thần bí ở “bên kia”, sau cái chết. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ballad trở thành thể loại ưa thích của các nhà thơ như Burger, Schiller, Goethe của Đức, Miskevich của Ba Lan,…, thể hiện mối quan tâm đến truyền thống dân gian trong thơ ca tiền lãng mạn và lãng mạn chủ nghĩa. Tinh thần duy lý của thời đại chủ nghĩa cổ điển thế kỷ được thay thế bằng khát vọng thâm nhập những “ngách tối” của tâm hồn con người – vừa với nghĩa cái xấu, cái ác, vừa với nghĩa những bí ẩn chưa thể khám phá.

Zhukovsky dịch và mô phỏng nhiều bài ballad của các nhà thơ phương Tây, đồng thời tạo nên những tác phẩm độc đáo của riêng mình. Trong 25 năm (từ 1808 đến 1833) ông sáng tác tổng cộng 39 bài ballad – một trong những mảng sáng tác quan trọng nhất của nhà thơ. Đa phần chúng là những tác phẩm dịch lại hay phóng tác từ các tác phẩm nước ngoài (chỉ có 5 bản là sáng tác độc đáo của Zhukovsky). Bản thân nhà thơ tự gọi mình một cách hóm hỉnh là “người lão bộc thi ca của những quỷ sứ và phù thủy Đức và Anh”[5] Tuy nhiên, trong các bản ballad, cũng như trong thơ Zhukovsky nói chung, ta không đơn thuần thấy một “dịch giả”, mà là một “đối thủ” của tác giả nguyên bản (theo như câu nói nổi tiếng của Zhukovsky: “người dịch văn xuôi là nô lệ, người dịch thơ là đối thủ”). Chủ đề chính của các bản ballad của Zhukovsky là những vấn đề hành xử của con người và sự lựa chọn giữa thiện và ác. Cội nguồn của thiện và ác luôn là chính bản thân tâm hồn con người và những sức mạnh huyền bí mà ý thức con người không nắm bắt được nhưng lại đang điều khiển tâm hồn con người.

Nổi bật trong sáng tác của Zhukovsky là những bài ballad viết về tình yêu, tiêu biểu nhất là “Svetlana” (1812).

Các bản ballad đánh dấu sự chín muồi trong thơ Zhukovsky, đồng thời cũng đánh dấu sự khởi đầu của thời đại lãng mạn của thơ ca Nga nói chung. Sự ra đời của phong trào lãng mạn gắn với hoạt động của nhóm “Arzamas” mà Zhukovsky là người đứng đầu. Chính những nhan đề, những câu nói trong các bản ballad của Zhukovsky được sử dụng như các biệt danh của nhóm (“Cây thụ cầm của Eol”, “Bà lão”,…), còn biệt danh của riêng Zhukovsky là “Svetlana”.

Từ năm 1810 đến 1820, Zhukovsky được coi là người dẫn đầu của thơ ca Nga, nhưng danh tiếng mà ông được nhận lúc sinh thời nói chung xuất phát từ những lý do khác nhiều hơn là do tác động của thơ ông đối với độc giả hiện đại. Những người đương thời hâm mộ ông trên hết vì những bài thơ đầy tinh thần ái quốc viết về những chiến thắng của người Nga trước quân Napoléon và vì rất nhiều bản dịch thơ của ông. Đối với độc giả hiện đại, giá trị bền vững của ông là ở những bài thơ ngắn, trong đó diễn tả những rung động riêng tư trong tim nhà thơ với một sự giản dị, đầy nhạc tính và trong sáng tinh khiết: đó là nỗi buồn thầm lặng, đầy cam chịu của nhà thơ, là nỗi đau biệt ly của đôi tình nhân, là niềm tin vào sự đoàn viên sau cái chết, là sự miên man trong ký ức, là vẻ đẹp của cái Bất khả tả. Zhukovsky là bậc thầy của loại thơ giàu nhạc tính, “sự ngọt ngào say mê” trong thơ ông đã khiến Pushkin thán phục, nó đối lập hẳn với phong cách rắn rỏi hùng biện của thơ Derzhavin, và vạch ra con đường đi tới cho thơ ca, qua thơ trữ tình của Fet đến những thử nghiệm nhạc tính của trường phái Tượng trưng.

 



[1] Ảnh hưởng của “thơ nghĩa trang”, của văn chương tình cảm chủ nghĩa châu Âu thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX nói chung trong thời kỳ đầu hoạt động văn chương đã khiến Zhukovsky trở thành một dịch giả nổi tiếng. Ngoài “Nghĩa trang làng quê”, những bản dịch thơ F.Schiller, W.Goethe, G.G.Byron, và cả những bản dịch các nhà thơ châu Âu ít nổi tiếng đã chinh phục độc giả Nga. Zhukovsky đã khẳng định vai trò của người dịch thơ (trong mối tương quan với tác giả nguyên bản) trong câu nói nổi tiếng: “Người dịch văn xuôi là nô lệ, người dịch thơ là địch thủ”.

 

[2] Dẫn theo: Kuleshev V.I. Lịch sử văn học Nga, Moskva, “Russky yzzyk”, 1989, tr.138.

[3] Dẫn theo: Kuleshov V.I. Lịch sử văn học Nga, Moskva, “Russky yazyk”, 1989, tr.136.

 

[4] Alexandra Fedorovna (1798 – 1860, tên thời con gái là Charlotte) là công chúa nước Phổ, vợ của hoàng tử Nikolai, và tháng 12 năm 1825 trở thành hoàng hậu sau khi chồng bà đăng quang  ngôi hoàng đế (Nikolai I). Tình yêu và cụôc hôn nhân của Nikolai với Alexandra Fedorovna được xem là biểu tượng cho sự hòa hợp Nga – Phổ. Nhà thơ Zhukovsky là thầy dạy tiếng Nga cho Alexandra Fedorovna.

[5] Zhukovsky V.A., Tác phẩm, bản in lần thứ 7, tập 6, SPb, 1878, tr.541.

 

Xin trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của V.A.ZHUKOVSKY

 

19 THÁNG BA NĂM 1823

 

Em lặng đứng trước tôi

Ánh nhìn u sầu quá

Bao cảm xúc ngập tràn

Gợi cho lòng tôi nhớ

Quá khứ đẹp vô vàn..

Nó - ánh nhìn lần cuối

Cùng tôi trên thế gian.

 
Em đã mãi rời xa

Như thiên thần lặng lẽ

Nấm mồ em yên nghỉ

Như thiên đường bình an

Mọi ký ức trần gian

Mọi suy tư  thánh thiện

Đều tụ về chốn đây.


Những vì sao trên trời,

Đêm thanh bình, yên tĩnh

 

 

19 МАРТА 1823

 

Ты предо мною

Стояла тихо.

Твой взор унылый

Был полон чувства.

Он мне напомнил

О милом прошлом..

Он был последний

На здешнем свете.

 

Ты удалилась,

Как тихий ангел;

Твоя могила,

Как рай, спокойна!

Там все земные

Воспоминанья,

Там все святые

О небе мысли.

 Звезды небес,

Тихая ночь!..

 ----------------------------------------------------------------------

ĐÊM

 

Ngày mệt mỏi ngả mình

Vào dòng sông ráng đỏ

Bầu trời xanh tối dần

Đêm mát rượi lan tỏa

Đêm yên bình lặng lẽ

Dạo trên con đường mây

Thần Hesper  bay lượn

Với ngôi sao tuyệt vời.

 

Nàng hãy xuống cùng tôi

Với mạng che thần bí

Lọ thuốc xua mộng mị

Hãy đem đến thanh bình

Cho con tim mỏi mệt

Bằng hình bóng của mình

Bằng lời ca tuyệt diệu

Như người mẹ dỗ con

Hãy an ủi tâm hồn

Bị nỗi buồn đày đọa

 ----------------------------------------

НОЧЬ

 

Уже утомившийся день

Склонился в багряные воды,

Темнеют лазурные своды,

Прохладная стелется тень;

И ночь молчаливая мирно

Пошла по дороге эфирной,

И Геспер летит перед ней

С прекрасной звездою своей.

 

Сойди, о небесная, к нам

С волшебным твоим покрывалом,

С целебным забвенья фиалом.

Дай мира усталым сердцам.

Своим миротворным явленьем,

Своим усыпительным пеньем

Томимую душу тоской,

Как матерь дитя, успокой.

 

 Trần Thị Phương Phương

Bình luận
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa