Trang chủ Diễn đàn Liên hệ  
Tìm kiếm:
 
Danh mục chính
Giới thiệu hội
Sự kiện hội
Tin tức
Kiosk văn nghệ
Odessist cười
KTO? ЧТО? ГДЕ? КОГДА?
Biển Đen Wiki
Giới thiệu tác giả tác phẩm
Góc nội trợ của Odessist
Làm đẹp - thời trang
Thư viện âm nhạc
Thư viện ảnh
Liên kết Website
Thành phố Odessa
Đại học Y Odessa
Trường Bách Khoa Odessa
Trường tổng hợp Odessa
Odessa 360 độ
Trường thực phẩm
Người Việt Kharkov
Hội cựu DHS Odessa trên FB
THT-Solutions
Lưu học sinh Việt nam
Nước Nga.net
Lưu học sinh Liên xô 88-89

Bình chọn
Theo bạn cuộc họp sắp tới nên tổ chức ở đâu?
Hà nội
Hải Phòng
TP Hồ Chí Minh

Thống kê truy cập
Tổng số người truy cập:
23923931
Số người đang online:
101
BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần V - Trần Thị Phương Phương dịch)
Nếu như không có hắn, thì cũng sẽ có kẻ khác xuất hiện. Nếu không có chuyện ghen tuông thì lại có cớ khác. Tôi chắc chắn là tất cả mọi người chồng đều sẽ phải hoặc sống phóng đãng, hoặc tự vẫn, hoặc giết vợ như tôi đã làm. Nếu như điều đó không xảy ra với ai đó thì đó là trường hợp ngoại lệ vô cùng hãn hữu. Trước khi gây ra án mạng tôi đã mấy lần định tự vẫn, còn vợ tôi cũng đã từng uống thuốc độc.

XV

Trong suốt thời gian chung sống với vợ, không lúc nào tôi không bị những cơn ghen tuông giày vò. Nhưng có những thời kỳ, tôi đặc biệt khổ sở vì chúng. Một trong những thời kỳ đó là lúc sau khi vợ tôi sinh đứa con đầu lòng và bác sĩ cấm nàng cho con bú. Tôi đặc biệt ghen tuông khi đó. Thứ nhất là bởi vì vợ tôi luôn mang tâm trạng lo lắng vốn thường thấy ở những người mẹ trẻ, tâm trạng đó dẫn đến những sự rối loạn vô cớ trong cuộc sống thường nhật; thứ hai: khi nhìn thấy vợ tôi từ bỏ một cách dễ dàng trách nhiệm đạo đức của người mẹ, tôi đã kết luận, dù chỉ một cách vô ý thức thôi, rằng rồi nàng cũng sẽ có thể từ bỏ một cách dễ dàng như thế trách nhiệm đạo đức của người vợ. Hơn nữa, nàng thực ra vẫn hoàn toàn khỏe mạnh và mặc dù các bác sĩ đã cấm đoán, nàng vẫn có thể nuôi những đứa con sau bằng sữa mẹ một cách tuyệt vời.

- Ngài hình như không thích các bác sĩ lắm ?, - tôi nói, vì có nhận xét rằng lần nào nói đến các bác sĩ, giọng anh ta cũng đầy vẻ giận dữ.

- Đây không phải là chuyện thích hay là không thích. Bọn người đó đã hủy hoại cuộc đời tôi, cũng như đã từng hủy hoại cuộc đời của hàng ngàn, hàng trăm ngàn người khác, và tôi không thể không nối những hậu quả với nguyên nhân được. Tôi biết họ, cũng giống như bọn luật sư hay những người khác, chỉ cần kiếm tiền. Tôi sẵn lòng đưa cho bọn bác sĩ đó cả nửa tài sản, và bất cứ người nào trong các ngài cũng sẽ sẵn lòng làm thế nếu biết được cái bọn họ đã gây nên là gì, để sao cho bọn họ đừng có xen vào cuộc sống gia đình mình, để sao cho họ đừng bao giờ bén mảng đến gần nhà mình. Tôi không làm chuyện thu thập chứng cứ, song tôi biết hàng chục trường hợp, trong số vô vàn trường hợp giống thế: khi thì họ giết chết đứa bé còn trong bụng mẹ vì đoan chắc rằng bà mẹ không thể sinh bé được, trong khi sau đó bà ta vẫn sinh con được bình thường; khi thì họ giết chết bà mẹ bằng những cuộc mổ xẻ, phẫu thuật gì đó. Không ai xem đó là giết người, cũng như không ai cho pháp đình giáo hội ngày xưa cũng là tội ác giết người, bởi nghĩ rằng những điều đó phục vụ cho hạnh phúc nhân loại. Không thể kể xiết những tội ác mà họ đã gây nên. Nhưng tất cả những tội ác đó cũng không sánh nổi với chuyện họ làm suy đồi đạo đức bằng việc thổi cái chủ nghĩa duy vật của họ vào thế giới này thông qua phương tiện phụ nữ. Nếu như ngài chỉ nghe theo chỉ dẫn của họ thôi thì nhìn đâu cũng thấy đẫy rẫy vi trùng gây bệnh tật đang chờ đợi ngài, và điều này khiến cho con người thay vì cần phải đoàn kết lại trở nên xa lánh nhau; theo lý thuyết của họ thì mọi người đều phải sống riêng rẽ và không rời miệng khỏi cái ống bơm acid carbolic (rồi sau này họ sẽ lại đổi ý và chứng minh cái chất này chẳng có ích lợi gì đâu). Nhưng điều này cũng còn chưa sao. Cái độc hại chủ yếu của họ là ở việc làm hư hỏng con người, đặc biệt là làm hư hỏng phụ nữ.

Bây giờ không thể nào nói: "Anh sống tệ lắm, cần phải sống tốt hơn lên". Không thể nói như thế với cả chính mình lẫn người khác. Nếu như anh sống tồi tệ ư, nguyên do sẽ là bởi thần kinh anh có sự không bình thường. Cần phải đến bác sĩ , họ sẽ ghi toa thuốc với ba mươi lăm cô pếch cho anh uống. Nếu không đỡ thì lại thêm thuốc nữa, lại đến bác sĩ nữa. Thật là tuyệt vời!

Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó. Tôi mới nói rằng vợ tôi vẫn tự mình nuôi con bằng sữa mẹ. Chính cái việc mang thai và nuôi con đó đã cứu tôi thoát khỏi những cơn ghen tuông. Nếu không có nó thì tai họa kia đã xảy ra sớm hơn nhiều. Những đứa con đã cứu tôi và nàng. Trong tám năm nàng sinh hạ được 5 đứa con. Cả năm đứa nàng đều tự nuôi dưỡng.

- Các con ngài bây giờ sống ở đâu? - tôi hỏi.

- Các con tôi ư? - anh ta hỏi lại với vẻ hoảng sợ.

- Xin lỗi ngài, có lẽ tôi đã làm ngài buồn khổ vì nhắc đến chuyện đó chăng?

- Không, không sao đâu. Chị vợ tôi và em trai bà ấy đã đón lũ con tôi về nuôi. Họ không cho tôi nuôi con. Tôi đã cho họ tất cả tài sản, thế nhưng họ vẫn không chịu giao con cho tôi. Vì tôi bị coi như kẻ bị bệnh tâm thần mà. Tôi vừa ở chỗ con tôi về. Tôi đến thăm chúng, nhưng họ không giao chúng cho tôi đâu, vì sợ tôi sẽ giáo dục chúng thành những kẻ giống như bố mẹ chúng. Thế thì chúng phải thành những người như thế nào cơ chứ? Nhưng biết làm sao được. Họ không cho tôi nhận con và không tin tôi, cũng dễ hiểu thôi. Chính tôi cũng chẳng biết mình có đủ sức để giáo dục các con nên người không. Có lẽ là không. Tôi là kẻ bỏ đi, là phế nhân rồi. Tuy nhiên tôi còn có được một cái. Đó là sự thật, tôi đã biết được điều mà những người khác còn lâu mới có thể biết được.

Vâng, lũ trẻ còn sống và sẽ lớn lên thành những kẻ mọi rợ giống những người xung quanh chúng. Tôi đã đến thăm chúng ba lần rồi. Tôi không thể làm gì cho chúng được cả. Không làm được gì cả. Còn bây giờ tôi đi về miền Nam. Tôi có căn nhà và mảnh vườn nhỏ ở đó.

Vâng, còn lâu người ta mới biết được cái điều mà tôi đã biết. Người ta có thể sẽ sớm biết được trên mặt trời và các vì tinh tú có bao nhiêu sắt và kim loại, nhưng nhìn ra được sự vô đạo trong cuộc sống của chúng ta thì còn khó lắm, khó kinh khủng...

Chỉ cần ngài chịu khó ngồi nghe tôi thế này, tôi đã mang ơn ngài nhiều lắm.

 

XVI

- Ngài vừa nhắc đến con cái. Cũng có cả một sự lừa dối đáng sợ về con cái. Con cái là phước lành chúa ban cho, là niềm hạnh phúc ư - toàn là những lời nói dối hết. Con cái - đó là sự khổ đau và ngoài ra chẳng có gì hơn. Đa phần các bà mẹ vẫn thường cảm thấy điều đó và đôi khi cũng đã buột ra mồm điều đó. Thử hỏi phần lớn các bà mẹ của trong giới thượng lưu chúng ta, những người luôn sống trong no đủ, mà xem, họ sẽ nói do lo sợ con cái có thể bị ốm đau hay chết mà họ không muốn có con, hoặc không muốn nuôi nếu đã lỡ sinh ra chúng, để khỏi bị ràng buộc và đau khổ. Niềm vui sướng mà đứa con mang lại - đôi tay, đôi chân xinh xắn, thân mình mũm mĩm và tất cả những cái đáng yêu của nó - ít hơn rất nhiều so với những khổ đau mà họ phải chịu đựng: chưa nói đến chuyện con bệnh tật hay bị chết, mà chỉ nỗi lo sợ những điều đó xảy ra thôi cũng đã rất nhiều rồi. Khi đem cân đo giữa cái lợi và không lợi của việc có con thì hóa ra cái không lợi nhiều hơn, và vì vậy họ không muốn có con. Họ mạnh dạn nói thẳng ra như vậy, nghĩ rằng những cảm xúc đó trong họ là xuất phát từ tình yêu đối với những đứa con, rằng đó là những cảm xúc đáng ngợi khen và khiến họ tự hào. Họ không nhận ra rằng chính với cách suy nghĩ đó họ đã phủ nhận tình yêu, và chỉ khẳng định lòng ích kỷ nơi họ mà thôi. Đối với họ niềm vui từ vẻ xinh đẹp của đứa con ít ỏi hơn nhiều so với nỗi đau khổ vì lo sợ cho nó, bởi vậy mà không nên có đứa con mà họ sẽ rất yêu thương đó. Họ hy sinh không phải bản thân mình cho sinh thể đáng được yêu thương, mà hy sinh cái sinh thể đáng được yêu thương còn chưa kịp ra đời đó cho bản thân mình.

Rõ ràng đó không phải tình yêu, mà là lòng ích kỷ. Nhưng không ai muốn trách cứ lòng ích kỷ của họ, những bà mẹ của những gia đình no đủ đó cả, nếu nhớ đến những nỗi đau khổ vì con cái, cũng lại nhờ có các bác sĩ yêu quý  của ta mà họ mới phải chịu đựng. Bây giờ cứ nhớ lại tình cảnh của vợ tôi thời kỳ đầu, khi chúng tôi có ba, bốn đứa con và nàng bị rút toàn bộ sức lực vào chúng như thế nào, tôi lại thấy kinh khiếp. Cuộc sống của chúng tôi lúc đó thật tệ hại. Cứ liên tiếp bị đe dọa bởi các mối nguy hiểm, vừa cố gắng thoát khỏi cái này thì cái khác lại đến - lúc nào cũng trong trạng thái của kẻ ngồi trên con tàu đang sắp đắm. Đôi khi tôi có cảm giác rằng đó là nàng cố ý làm ra vậy, giả vờ lo lắng vì lũ trẻ để chống lại tôi, và mọi vấn đề giữa chúng tôi sẽ được giải quyết một các êm thấm có lợi cho nàng. Tôi đôi khi có cảm giác, rằng tất cả những gì nàng làm và nói trong những trường hợp như vậy đều là cố ý. Nhưng không, chính nàng thường xuyên khổ sở vô cùng vì lũ trẻ, vì sức khỏe và bệnh tật của chúng. Nỗi khổ sở đó của nàng, tôi cũng từng phải trải qua. Và nàng không thể không khổ sở được. Mê mải với lũ con, nhu cầu được nuôi nấng, âu yếm, che chở cho chúng là bản năng tự nhiên của phần lớn các phụ nữ cũng như của các loài cầm thú. Chỉ có điều cầm thú không có óc tưởng tượng và lý trí như con người. Con gà mẹ không biết sợ những điều có thể xảy đến với lũ gà con, nó không biết những bệnh tật mà lũ con có thể mắc phải, không biết đến những phương cách mà loài người tưởng là có thể dùng để cứu con khỏi bệnh tật và cái chết. Và con cái đối với con gà không phải là nỗi khổ. Nó làm cho con những việc vốn thuộc bản tính của nó và nó vui sướng; con cái đối với nó là niềm vui. Còn khi gà con bị ốm, mối quan tâm của gà mẹ rất rõ ràng: nó sưởi ấm và cho con ăn. Nó làm những điều đó và biết đó là tất cả những gì cần phải làm. Con gà nhỏ tắt thở, gà mẹ không tự hỏi vì sao con nó chết và hồn con nó sẽ đi về đâu. Nó "cục cục" một hồi, rồi sau đó tiếp tục sống như cũ. Nhưng đối với những phụ nữ bất hạnh của chúng ta và đối với vợ tôi thì mọi chuyện không đơn giản như thế. Không chỉ về bệnh tật và cách chữa trị, mà bao thứ khác như làm thế nào để nuôi dạy, chăm sóc con cái, họ được bảo ban, răn dạy với vô số các công thức đủ loại đủ hình và luôn luôn thay đổi. Phải cho ăn như thế này, với các thức này - không, không phải như thế, không phải các thức đó, mà phải thế này cơ; rồi mặc, rồi uống, rồi tắm, rồi ngủ, rồi đi chơi, rồi không khí - tất cả những thứ đó với chúng ta, nhất là các bà mẹ, mỗi tuần lại có thêm những cách thức mới. Còn không cho ăn như thế, không tắm như thế, không đúng lúc đó, nếu em bé ngã bệnh thì mọi lỗi lầm đều do bà mẹ vì đã không làm đúng như cần phải làm.

Đấy là lúc khỏe mạnh còn khổ như thế. Còn đến lúc con ốm thì hết chỗ nói. Lúc đó đúng là ở trong địa ngục. Giả sử bệnh có thể chữa được, nghĩa là có cái khoa học nào đó, có những người nào đó là các bác sĩ, họ biết cách chữa chạy. Không phải tất cả mọi người, mà chỉ những người giỏi nhất, mới biết cách chữa. Thế là khi đứa trẻ bị bệnh, phải tìm bằng được cái người giỏi nhất biết chữa bệnh ấy thì trẻ mới có thể được cứu sống; còn nếu không mời được ông bác sĩ đó, hoặc là anh không sống gần nơi ông bác sĩ ở, thì trẻ sẽ chết. Đó là điều mê tín không phải của riêng vợ tôi, mà là của tất cả phụ nữ trong giới của nàng. Bốn phương tứ phía nàng chỉ nghe thấy những lời kiểu như: hai đứa con bà Ekaterina Semenovna chết chỉ vì không kịp mời Ivan Zakharych, còn ở nhà bà Maria Ivanovna ngài Ivan Zakharych đã cứu sống bé gái đầu lòng; nhà Petrov nghe lời bác sĩ chuyển sang khách sạn ở và cách ly đúng lúc nên lũ trẻ còn sống, chứ nếu không chuyển đi thì lũ trẻ chết mất rồi; còn bà kia có con bệnh tật, theo lời khuyên của bác sĩ đi về miền nam nên cũng đã cứu được đứa bé. Làm sao mà không lo lắng, khổ sở cả đời được, khi mà sự sống của những đứa con mà nàng gắn bó theo bản năng lại phụ thuộc vào việc nàng phải kịp thời biết được Ivan Zakharych bảo cần làm gì. Mà Ivan Zakharych bảo làm gì thì không ai biết, bản thân ông ta lại càng không biết hơn, vì ông ta thừa hiểu rằng ông ta chẳng biết làm gì và không thể giúp gì cho ai cả, chỉ biết ngoắt ngoéo trong mọi sự cố, cốt sao cho người ta đừng mất lòng tin rằng ông ta biết làm gì đó thôi. Nếu như vợ tôi hoàn toàn chỉ là con vật thôi thì nàng đã chẳng phải khổ sở như thế; còn nếu như nàng hoàn toàn là con người, hẳn nàng đã có lòng tin vào chúa và sẽ nói, sẽ nghĩ như những bà nông dân sùng đạo: "Chúa cho rồi chúa lấy đi, chúa gọi ai thì người đó phải thưa". Nàng sẽ nghĩ rằng sự sống và cái chết của mọi người cũng như của các con nàng nằm ngoài ý con người, mà chỉ thuộc về quyền năng của chúa, và như thế nàng sẽ không còn đau khổ vì đã không ngăn chặn được bệnh tật và cái chết của con, nàng không có lỗi trong chuyện đó. Thế mà tình trạng của nàng lại là: nàng sinh ra những sinh linh yếu ớt, mong manh nhất nhưng lại phải chịu nhiều tai họa nhất. Nàng cảm thấy sự gắn bó thiết tha với chúng bằng bản năng của cầm thú. Ngoài ra, những sinh linh đó lại được phó thác cho nàng, đồng thời những phương tiện bảo vệ chúng khỏi bị nguy hại trong khi đối với nàng là bí ẩn, thì những người hoàn toàn xa lạ lại rất tỏ tường, phải trả thật nhiều tiền mới nhận được sự phục vụ và lời khuyên của họ, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được.

Cuộc sống có lũ trẻ đối với vợ tôi không phải là niềm vui sướng mà là nỗi thống khổ, và tôi vì thế cũng chỉ thấy toàn nỗi khổ thay cho niềm vui. Làm sao mà không khổ sở được. Nàng buồn khổ, thường xuyên buồn khổ. Thường thì, cứ vừa bình tĩnh sau một cơn ghen tuông hay một trận cãi cọ, vừa tính chuyện sống cho tử tế hơn, vừa tính làm một chuyện gì đó, thì bỗng nhiên thằng Vasya lại nôn ói, hay con Masha ngã chảy máu, hay thằng Andryusha bị nổi ban, và thế là lại rối loạn cả lên. Phải chạy tới đâu đây, mời bác sĩ nào đây, đưa thằng bé hay con bé vào phòng nào để cách ly đây? Và lại bắt đầu nào tiêm, nào cặp nhiệt độ, nào thuốc nước, nào bác sĩ. Rồi họa này chưa hết thì họa khác lại đã kéo đến. Chẳng thể nào có được một cuộc sống tử tế, bình ổn. Như tôi đã nói đấy, lúc nào cũng là cuộc chiến đấu chống lại những hiểm họa cả có thực lẫn tưởng tượng ra. Trong phần lớn các gia đình đó đều có chuyện đó thôi, nhưng trong gia đình tôi thì chuyện đó càng đặc biệt căng thẳng. Vợ tôi vốn quá thương lũ con và lại rất cả tin.

Như vậy, sự có mặt của lũ trẻ không những không làm cuộc sống của chúng tôi tốt thêm lên, mà ngược lại còn đầu độc nó. Ngoài ra, lũ trẻ còn trở thành những nguyên cớ mới cho mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Không chỉ là đối tượng của cãi cọ, chúng còn là vũ khí để chúng tôi chống lại nhau; chúng tôi dùng lũ trẻ để gây sự với nhau. Mỗi chúng tôi có một đứa con cưng đem ra làm vũ khí. Tôi dùng Vasya, thằng con lớn, còn nàng thì có Lisa. Thêm vào đó, khi lũ trẻ lớn lên và tính cách chúng đã hình thành, thì chúng lại thành những đồng minh mà chúng tôi người nào cũng muốn lôi kéo về phía mình. Những đứa bé đáng thương đó đã phải chịu biết bao khổ đau vì chuyện đó, nhưng chúng tôi trong lúc giao chiến còn tâm trí nào mà nghĩ đến chúng nữa. Đứa con gái bé là đồng minh của tôi, còn thằng anh nó, rất giống nàng và là cục cưng của nàng, thì luôn thù ghét tôi.

 

XVII

- Chúng tôi đã sống như thế đấy. Quan hệ thù địch càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Và cuối cùng đã đi đến mức là không phải sự bất đồng dẫn đến sự thù địch, mà chính sự thù địch tạo ra sự bất đồng: nàng chưa kịp cất lời thì tôi đã không đồng ý với nàng rồi và ngược lại.

Đến năm chung sống thứ tư thì cả hai chúng tôi đều đi đến quyết định là sự hiểu biết và đồng cảm giữa chúng tôi không thể nào có được nữa. Chúng tôi thôi không cố gắng phân giải đến cùng nữa. Trong mọi vấn đề từ đơn giản nhất, đặc biệt là những vấn đề về con cái, mỗi người luôn giữ nguyên ý kiến của mình. Bây giờ tôi nhớ lại và thấy rằng, những ý kiến mà tôi luôn cố giữ thực ra chẳng phải có giá trị gì lắm đến nỗi không thể từ bỏ được; nhưng nàng đối với tôi đáng ghét quá, cho nên từ bỏ ý kiến của mình tức là phải chịu nhường bước cho nàng, mà điều đó thì tôi không thể. Nàng cũng vậy. Nàng có lẽ luôn cho rằng mình đúng đắn hơn tôi. Thế mà từng có thời tôi đã là thần thánh trong mắt nàng. Giữa hai chúng tôi luôn giữ sự im lặng, hay chỉ có những cuộc trò chuyện, mà tôi tin bọn cầm thú cũng có thể trao đổi như thế với nhau, đại loại như: "Mấy giờ rồi? Đi ngủ đi. Bữa trưa nay ăn gì vậy? Đi đâu đây? Báo hôm nay có tin gì không? Cho người đi gọi bác sĩ đi, Masha bị đau họng rồi." Chỉ cần vượt ra ngoài phạm vi những câu chuyện như trên một tí thôi là lập tức nổ ra cãi cọ ngay. Các cuộc đụng độ diễn ra và những lời lẽ đầy hận thù có khi được tung ra chỉ vì ly cà phê, tấm khăn trải bàn, cỗ xe ngựa, ván bài cào - tất cả những thứ mà đối với mọi người chẳng có gì là quan trọng. Trong tôi thậm chí luôn sôi sục một cách kinh khủng lòng hận thù với nàng. Đôi lúc tôi nhìn nàng rót trà, đung đưa chân hay cầm thìa lên miệng húp nước canh, và cảm thấy căm ghét nàng chì vì những cử chỉ đó, làm như đó là những cử chỉ tồi tệ nhất trần đời. Lúc đó tôi không nhận ra, rằng những giai đoạn hận thù xuất hiện trong tôi luân chuyển đều đặn hoàn toàn tương ứng với những thời kỳ mà chúng tôi gọi là yêu đương. Cứ một giai đoạn yêu đương lại một giai đoạn hận thù; nếu yêu đương nồng nhiệt thì giai đoạn hận thù kéo dài; nếu yêu đương ít hơn thì giai đoạn hận thù cũng ngắn hơn. Lúc đó, chúng tôi chưa hiểu ra rằng tình yêu đó và hận thù đó chẳng qua chỉ là một thứ tình cảm thú vật biểu hiện ở hai cực khác nhau mà thôi. Nếu như chúng tôi hiểu ra điều đó khi ấy thì cuộc sống sẽ hết sức  khủng khiếp; nhưng chúng tôi đã không hiểu và cũng không nhìn thấy. Đó là sự cứu vớt mà cũng là sự trừng phạt đối với con người, khi anh ta sống vô đạo đức, anh ta có thể tự che mắt để không nhìn thấy tình trạng thảm hại của mình. Chúng tôi cũng như thế. Nàng thì cố lãng quên bằng những lo toan căng thẳng về chuyện nhà cửa, tiền bạc, sắm sửa áo quần cho mình và cho con cái, chuyện học hành, chuyện sức khỏe của lũ con. Tôi cũng có những si mê của mình - mê công việc, mê săn bắn, bài bạc. Cả hai chúng tôi luôn luôn bận rộn. Cả hai đều cảm thấy, càng bận rộn bao nhiêu, chúng tôi càng ghét giận nhau bấy nhiêu. "Cô đóng kịch giỏi lắm, - tôi nghĩ về nàng -cô đã hành hạ tôi vì những vở kịch của cô suốt đêm qua, mà tôi sáng ra còn phải có cuộc họp nữa chứ". "Anh thì sướng lắm, - nàng không chỉ nghĩ mà còn nói thẳng với tôi, - trong khi tôi suốt đêm không ngủ được vì con".

Chúng tôi sống như thế đấy, thường xuyên trong đám mây mù để không nhìn thấy tình cảnh thực sự của mình. Và nếu như không xảy ra cái tai họa kia thì có lẽ tôi cũng sẽ cứ sống như thế cho đến già, và khi chết đi sẽ nghĩ là mình đã sống một cuộc đời tử tế, không thật tốt lắm, song cũng không tệ lắm, cũng như tất cả những người khác; tôi sẽ không hiểu được tận đáy nỗi bất hạnh và sự dối trá đê tiện mà tôi đang vùng vẫy trong đó.

Chúng tôi là hai kẻ tội đồ thù hận nhau song lại bị xích chung với nhau bằng một cái xiềng, đầu độc nhau và cố gắng không nhận ra điều đó. Khi đó, tôi còn chưa biết rằng chín mươi chín phần trăm cặp vợ chồng cũng sống trong địa ngục như chúng tôi, và không thể có cuộc sống nào khác được. Khi đó, tôi nào đã biết như vậy về mình và về mọi người.

Thật lạ, có những sự trùng hợp trong cả cuộc sống đúng đắn lẫn cuộc sống không đúng đắn! Cha mẹ vừa cảm thấy không thể nào chịu đựng nổi nhau thì đồng thời lại cảm thấy phải sống ở thành phố để cho con cái học hành. Thế là nảy sinh nhu cầu chuyển nhà lên thành phố.

Pozdnyshev nín lặng, và hai lần phát ra những âm thanh kỳ lạ của mình, chúng bây giờ đã hoàn toàn giống như những tiếng nức nở bị kìm nén lại. Chúng tôi đến gần một ga khác.

- Mấy giờ rồi ạ? - anh ta hỏi.

Tôi nhìn đồng hồ, đã hai giờ.

- Ngài không mệt đấy chứ?- anh ta lại hỏi.

- Không, nhưng ngài mệt rồi đấy.

- Tôi khó thở quá. Xin phép ngài, tôi ra ngoài uống ít nước nhé.

Anh ta đi dọc toa tàu, người lắc lư. Tôi ngồi lại một mình, sắp xếp lại trong đầu những gì anh ta kể, và chìm vào trong suy nghĩ nên không nhận ra anh ta đã trở về, đi vào bằng lối cửa khác.

 

XVIII

- Vâng, tôi biết mình luôn đi xa chủ đề, nhưng vì tôi đã suy nghĩ lại rất nhiều điều, nhìn nhận ra rất nhiều điều mới mẻ, nên muốn kể tất cả những cái đó. Thế là chúng tôi chuyển lên sống ở thành phố. Những kẻ bất hạnh sống ở thành phố dễ chịu hơn. Ở thành phố con người có thể sống đến trăm tuổi mà không nhớ ra là anh ta đã chết và thối rữa từ lâu. Chẳng có thì giờ để ngồi phán xét mình vì lúc nào cũng bận rộn. Nào công việc, nào quan hệ xã giao, nào chuyện sức khỏe, nào nghệ thuật, nào con cái và việc giáo dục chúng. Khi thì phải tiếp người này đón người kia, khi thì phải đến thăm ông này hỏi bà kia, khi đi xem vở kịch này, khi đi nghe buổi hòa nhạc kia. Ở thành phố, bất cứ giờ phút nào cũng luôn có một, hoặc thậm chí cùng lúc có hai hay ba nhân vật nổi tiếng nào đó mà không thể bỏ qua dịp làm quen được. Rồi lại phải chữa trị bệnh này bệnh kia, rồi nào phải gặp người đỡ đầu, thuê thầy giáo, mướn gia sư. Tất cả đều là sự trống rỗng giả tạo, nhưng chúng tôi đã sống như thế và cảm thấy nỗi đau khổ của cuộc sống chung nhẹ bớt đi. Ngoài ra, thời gian đầu còn có những mối bận tâm thú vị là sắp xếp cho cuộc sống mới, cho căn hộ mới ở thành phố, rồi còn thêm những chuyến đi lại từ thành phố về quê và từ quê ra thành phố nữa.

Chúng tôi sống qua một mùa đông, đến mùa đông thứ hai xảy ra một chuyện mà chưa ai để ý, tưởng như rất nhỏ nhặt, nhưng chính lại là điều dẫn đến tai họa sau này. Vợ tôi không được khoẻ. Cái bọn bác sĩ vô lại không cho phép nàng sinh nở nữa và dạy cho nàng phương cách. Tôi cảm thấy ghê tởm chuyện đó. Tôi kháng cự, nhưng nàng bằng sự bướng bỉnh sốc nổi vẫn giữ nguyên ý mình, và tôi đành khuất phục; cái cớ cuối cùng để biện hộ cho cuộc sống tồi tệ của chúng tôi là con cái đã bị lấy mất đi, và cuộc sống trở nên gớm ghiếc hơn.

Đối với những người nông dân, những người lao động, con cái là cần thiết. Mặc dù họ nuôi chúng rất vất vả, nhưng họ cần chúng, bởi vậy cuộc sống vợ chồng của họ có cái để biện hộ. Còn với chúng tôi, những người đã có con rồi, lũ con không còn cần thiết nữa, chúng chỉ là những mối bận tâm, những khoản chi phí, những kẻ đồng thừa kế, chúng là gánh nặng. Và thế là không còn sự biện hộ nào cho cuộc sống nhơ nhuốc của chúng tôi nữa. Hoặc là chúng tôi dùng biện pháp để tránh không có con, hoặc nếu lỡ có con ra thì xem chúng như nỗi bất hạnh, hậu quả của sự không cẩn trọng, điều này còn tệ hơn. Không có sự biện hộ nào cả. Nhưng chúng tôi đã sa đọa đến độ không còn thấy cần phải biện hộ cho cuộc sống của mình nữa. Phần lớn tầng lớp có học thức của chúng ta hiện nay sa vào cuộc sống như thế mà không hề bị lương tâm cắn rứt.

Chẳng bị cắn rứt, bởi vì chẳng có cái lương tâm nào ở trong cuộc sống của chúng ta, trừ dư luận xã hội và luật hình sự, nếu có thể gọi đó là lương tâm. Nhưng ngay cả hai điều này cũng chẳng làm ảnh hưởng gì đến chúng ta cả. Chẳng có gì phải hổ thẹn trước dư luận xã hội bởi tất cả mọi người đều làm như thế: cả Maria Ivanovna, cả Ivan Zakharych, cả những người khác nữa. Trước luật hình sự cũng chẳng có gì phải sợ cả. Đó là cái lũ con gái hoang hay bọn vợ lính mới vứt con xuống hồ hay xuống giếng; bọn đó tất nhiên là phải nhốt vào tù rồi, còn những người có học thức như chúng ta thì làm những chuyện đó đúng lúc và cẩn thận lắm.

Chúng tôi sống như vậy thêm hai năm nữa. Các phương cách của lũ bác sĩ vô lại rõ ràng bắt đầu có hiệu quả: vợ tôi khỏe ra và đẹp ra, giống như vẻ đẹp rực rỡ cuối mùa hè. Nàng cảm thấy được điều đó và quay sang chăm sóc bản thân. Ở nàng trổ ra vẻ đẹp khêu gợi làm bối rối người khác. Nàng đang ở độ sung mãn của người phụ nữ ba mươi tuổi son rỗi và vui vẻ. Dáng điệu của nàng làm người khác bất an. Khi nàng đi ngang qua đám đàn ông, nàng cuốn hút ánh nhìn của họ về phía mình. Nàng giống như con ngựa nuôi nhốt bỗng được tháo dây cương. Chẳng có cái dây cương nào ràng buộc nàng, cũng như chín mươi chín phần trăm phụ nữ của chúng ta. Tôi cảm thấy điều đó và tôi kinh hãi.

 

XIX

Anh ta bỗng nhiên đứng lên và chuyển sang ngồi sát bên cửa sổ.

- Xin lỗi ngài, - anh ta nói, hướng mắt nhìn ra cửa sổ, ngồi im lặng như thế chừng ba phút. Sau đó, anh ta thở dài nặng nề và trở lại chỗ đối diện tôi. Khuôn mặt anh ta trở nên khác hẳn, đôi mắt đầy vẻ tội nghiệp, và gần như có một nụ cười kỳ lạ gợn trên đôi môi. - Tôi hơi bị mệt một chút, nhưng tôi sẽ kể tiếp. Vâng, - anh ta tiếp tục và lại châm thuốc hút. - Nàng đẫy người ra từ khi không sinh con nữa, và căn bệnh của nàng - tức sự đau khổ dai dẳng vì lũ con - bắt đầu qua đi; không phải chỉ là nỗi khổ qua đi, mà nàng còn như bừng tỉnh sau cơn say, hồi nhớ lại và nhìn thấy có cả một thế giới thần tiên dành cho nàng, với bao niềm vui sướng mà nàng đã lãng quên. Nhưng nàng không biết sống như thế nào trong thế giới đó, cái thế giới thần tiên mà nàng không hiểu gì hết. "Làm sao đừng để vuột mất! Thời gian sẽ trôi qua và không quay lại nữa!". Tôi hình dung nàng nghĩ  hay đúng hơn là cảm thấy như thế, mà nàng không thể không nghĩ và không cảm thấy như thế được: người ta dạy dỗ nàng, rằng trên đời này chỉ có một điều đáng quan tâm là tình yêu. Nàng lấy chồng, nhận được từ tình yêu không những không một niềm vui sướng nào như nàng chờ đợi và được hứa hẹn, mà chỉ toàn bao nhiêu thất vọng buồn phiền, rồi còn thêm nỗi đau khổ bất ngờ là con cái. Nỗi đau khổ đó làm nàng mệt mỏi. May nhờ có các bác sĩ tận tâm mà nàng mới biết là có thể tránh được chuyện có con. Nàng vui mừng và lại sống cho một điều duy nhất mà nàng biết là tình yêu. Nhưng đó không phải là tình yêu với ông chồng xấu xa luôn ghen tuông và cáu giận. Nàng bắt đầu tưởng tượng đến tình yêu nào đó khác hơn, tinh khiết, mới mẻ hơn. Ít nhất là tôi đã nghĩ về nàng như thế. Và nàng bắt đầu ngó nghiêng, dường như đợi chờ một cái gì đó. Tôi nhìn thấy điều đó và không thể không lo lắng. Nhất là thời gian cuối, trong khi nói chuyện với tôi thông qua người khác (nàng vẫn hay làm thế, nghĩa là nói với người ngoài, song những lời nói đó lại hướng tới tôi), nàng mạnh dạn phát biểu nửa đùa nửa thật (mà hoàn toàn không nhớ là một tiếng trước đó nàng nói hoàn toàn ngược lại), rằng sự quan tâm của người mẹ chỉ là điều dối trá, rằng không đáng phải dâng hiến cả cuộc đời mình cho con cái, trong khi đang còn trẻ tuổi và còn có thể hưởng thụ cuộc sống. Nàng ít bận rộn với các con, không mang vẻ tuyệt vọng như trước, càng lúc càng chú tâm đến bản thân hơn, chăm sóc cho hình thức bề ngoài của mình. Mặc dù cố dấu điều này, nhưng nàng chăm lo nhiều cho việc thỏa mãn bản thân mình và thậm chí lo làm cho bản thân hoàn hảo hơn. Nàng lại say mê chơi dương cầm, việc mà trước đó hoàn toàn bị bỏ quên. Và mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Anh ta lại quay người hướng đôi mắt mệt mỏi ra phía cửa sổ, nhưng rồi lập tức quay vào, rõ ràng cố ép mình tiếp tục câu chuyện.

- Vâng, rồi con người ấy xuất hiện, - anh ta lúng búng, hai lần từ mũi phát ra âm thanh vốn có của mình.

Tôi thấy rằng anh ta rất đau khổ khi phải nhắc đến tên người kia và phải nhớ lại, kể lại về hắn. Nhưng anh ta gắng sức, dường như cố vượt qua được vật đang cản trở mình, rồi quả quyết kể tiếp.

- Hắn là một kẻ tồi tệ, theo như tôi nhận xét và đánh giá. Không phải vì hắn đã gây nên chuyện gì trong đời tôi, mà bởi thực tế hắn là người như thế. Vả chăng, việc hắn là đồ tồi chỉ chứng minh cho sự vô can hoàn toàn của nàng. Nếu không có hắn thì sẽ có kẻ khác, mọi chuyện nhất định phải như thế.

Vâng, đó là một tay chơi vĩ cầm; không phải là nhạc công chuyên nghiệp, mà là nửa chuyên nghiệp, nửa tài tử.

Cha hắn là một điền chủ, láng giềng của cha tôi. Ông ta đã bị phá sản. Ba đứa con trai đều được thu xếp ổn định, chỉ có đứa út là hắn được đưa đến cho bà mẹ đỡ đầu sống ở Paris. Người ta gửi hắn vào nhạc viện, vì hắn có năng khiếu âm nhạc, và hắn ra trường thành nhạc công chơi vĩ cầm trong các dàn nhạc. Hắn là một kẻ... - Rõ ràng anh ta muốn nói điều gì đó tồi tệ về người nhạc công kia, song kìm lại được và nói nhanh: - Tôi không biết hắn sống ra sao ở Paris, chỉ biết rằng năm đó hắn trở về nước Nga và xuất hiện ở nhà tôi.

Hắn có đôi mắt ươn ướt màu hạt dẻ, đôi môi đỏ hồng luôn mỉm cười, hàng ria mép mềm mại, tóc cắt theo mốt mới nhất, khuôn mặt trông dễ chịu một cách đểu cáng, kiểu mặt mà phụ nữ vẫn cho là không tệ lắm. Dáng người hắn có vẻ yếu ớt, nhưng không xấu xí. Hắn thường cố tỏ ra suồng sã, song lại rất nhạy bén và luôn sẵn sàng dừng lại nếu có ai hơi tỏ ý chống cự. Với bề ngoài kiểu cách, với đôi ủng đặc biệt theo mốt Paris, với những nút cài và cà vạt màu sặc sỡ, và nhiều thứ khác nữa mà những kẻ ngoại kiều sống ở Paris thường sắm sửa cho mình, cộng thêm vẻ độc đáo, mới lạ, hắn luôn gây được ấn tượng cho phụ nữ. Hắn tỏ ra vui vẻ, hóm hỉnh. Khi nói chuyện, ngài biết không, hắn hay nói bóng gió và bỏ dở chừng, làm như ngài cũng biết và nhớ ra mọi chuyện hắn nói để có thể kể tiếp cùng hắn.

Chính hắn, cùng với âm nhạc của hắn, đã là nguyên nhân của mọi chuyện. Ở tòa án, người ta xem xét vụ án và kết luận nguyên nhân tôi giết vợ là do ghen tuông. Hoàn toàn không phải như thế, tưởng là thế nhưng sự thực không phải thế. Tòa án quyết định tôi là người chồng bị lừa dối và giết vợ để  trả thù cho danh dự bị bôi nhọ của mình (họ gọi cái đó là danh dự đấy). Và vì thế mà tôi được trắng án. Trước tòa, tôi cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa của vụ việc, thì họ lại nghĩ là tôi muốn phục hồi danh dự cho vợ tôi.

Mối quan hệ của vợ tôi với tay nhạc công đó cụ thể như thế nào, đối với tôi điều đó không có ý nghĩa gì, và đối với nàng cũng vậy. Cái chính là điều tôi đã kể cho ngài nghe, là sự nhơ nhuốc bẩn thỉu của tôi. Tất cả mọi chuyện xảy ra là do giữa chúng tôi đã có một vực thẳm khủng khiếp mà tôi đã nói rồi đấy, một sự căng thẳng thù hận đáng sợ, mà chỉ cần một cớ nhỏ cũng đủ gây ra thảm họa. Cãi cọ giữa chúng tôi thời gian cuối trở nên thường xuyên và đặc biệt dữ dội, cũng lại luân phiên với sự tăng cường những thèm muốn thú tính.

Nếu như không có hắn, thì cũng sẽ có kẻ khác xuất hiện. Nếu không có chuyện ghen tuông thì lại có cớ khác. Tôi chắc chắn là tất cả mọi người chồng đều sẽ phải hoặc sống phóng đãng, hoặc tự vẫn, hoặc giết vợ như tôi đã làm. Nếu như điều đó không xảy ra với ai đó thì đó là trường hợp ngoại lệ vô cùng hãn hữu. Trước khi gây ra án mạng tôi đã mấy lần định tự vẫn, còn vợ tôi cũng đã từng uống thuốc độc.

 (Còn tiếp)

Bình luận
  Bình luận Liên hệ In trang
Tin liên quan
»
» Taras Shevchenko - Nhà thơ, Hoạ sĩ, Nhà dân chủ cách mạng của Ukraina
» Số phận dữ dội của “Sông Đông êm đềm”
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Phần 2 - Thái Bá Tân dịch
» 31 bài thơ của Mikhail Yuryevich Lermontov (1814 – 1841) - Thái Bá Tân dịch ( Phần 1)
» Dostoyevski trong một thế giới duy ác - Trần Mạnh Hảo
» Chiutchev: một mặt trời thơ ca Nga khác?!
» Truyện ngắn "Bốn ngày" của V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин)
» V.M. GARSHIN (Все́волод Миха́йлович Гаршин) – MỘT BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN NGA
» Belinxki (Виссарио́н Григо́рьевич Бели́нский) - người đồng sáng tạo “thế kỷ vàng” của văn học Nga
» A.Blok (Алекса́ндр Алекса́ндрович Блок) - Nhà thơ lớn của nước Nga - Nguyễn Xuân Hòa
» Konstantin Nikolayevich Batyushkov (Константи́н Никола́евич Ба́тюшков :1787 – 1855)
» Thi sĩ Nga Nikolai Rubtsov (Николай Михайлович Рубцов): Xót xa giùm chút chút dịu dàng tình tôi…
» Ba con chó trong đời Ada - Truyện ngắn của Elena Nekrasova
» V.A.ZHUKOVSKY(Васи́лийАндре́евичЖуко́вский) - NGƯỜI MỞ ĐẦU PHONG TRÀO LÃNG MẠN NGA - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» Gavrila Romanovich Derzhavin (Гаврии́л (Гаври́ла) Рома́нович Держа́вин) – một tượng đài thơ ca Nga cổ điển - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» ALEXANDR SUMAROKOV (Александр Петрович Сумароков) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» MIKHAIL LOMONOSOV VÀ BÀI TỤNG CA SUY TƯỞNG BAN CHIỀU VỀ HIỆN TƯỢNG BẮC CỰC QUANG
» Chú Rể Sư Tử (ЛЕВ ЖЕНИХ) của Vasily Kirilovich Trediakovsky (1703 - 1769) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» SỬ THI DÂN GIAN NGA (TRÁNG SĨ CA) - Trần Thị Phương Phương biên soạn và giới thiệu
» “BÀI CA VỀ ĐẠO QUÂN IGOR” – ÁNG SỬ THI CỦA VĂN HỌC NGA CỔ - bài viết của Trần Thị Phương Phương
» Một cái kết có hậu - truyện của Victoria Tokareva
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Trần Thị Phương Phương dịch - tiếp theo và hết)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VII - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Modest Petrovich Mussorgsky và tác phẩm
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần VI - Trần Thị Phương Phương dịch)
» Sương Trắng Bạch Dương - Một dịch phẩm thơ công phu, trang nhã
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần IV - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần III - Trần Thị Phương Phương dịch)
» BẢN XÔ NÁT KREUTZER - Lev Tolstoy ( Phần II - Trần Thị Phương Phương dịch)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (tiếp theo và hết)
» NHÀ VIỆT HỌC N. I. NICULIN VÀ NỬA THẾ KỶ ĐỒNG HÀNH CÙNG VĂN HỌC VIỆT NAM (Phần I - bài viết của PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN (Viện Văn học – Hà Nội)
» Bản Sô - nát KREUTZER - Truyện của Lev Tolstoy (Phần I - Trần Thị Phương Phương dịch và giới thiệu)
» Một ngày không nói dối - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» Khối vuông hy vọng - truyện ngắn của Victoria Tokareva
» VỀ TRUYỆN NGẮN “MỘT CHUYỆN ĐÙA”
» Người vợ cuối cùng của Esenin
» HOA HỒNG CHO EMILY - William Faulkner (25/9/1897 - 6/7/1962)
» Victoria Tokareva : vịn vào đàn ông khỏi ngã
» Sura dễ thương
» HANS CHRISTIAN ANDERSEN – ĐỜI VÀ THƠ
» Valery Yakovlevich Bryusov và bài thơ “SÁNG TẠO”
» Về bộ phim “Số Phận Trớ Trêu” và Đạo diễn Eldar Ryazanov
» TỪ MỘT BẢN DỊCH THƠ SUY NGHĨ VỀ VIỆC TIẾP CẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI .
» Maxcva không tin vào những giọt nước mắt và những bài hát trong phim
» Tôi hỏi cây Tần Bì

Моя Одесса
Chi tiết>>
Thư viện ảnh
Ảnh Giải tennis Người Biển đen mở rộng - Hè 2013
Ảnh gặp mặt ngày 18 - 4 - 2009
Hình ảnh về buổi Giao lưu nhân ngày Chiến thắng Phát xít - ngày 9 tháng 5 năm 2013
Hình ảnh về Giải Tennis - Người biển đen Hè 2012
Ảnh phong cảnh
Ảnh Phong Cảnh
Thông báo ban quản trị
Tin nhanh số 3
Thông báo các trường
Quảng cáo
 
Copyright © 2010 Hội Cựu du học sinh Odessa